Nhãn

Ngày 18 tháng 05 năm 2016

868. Bí ẩn hợp đồng BOT đường bộ: Nhà đầu tư luôn có lãi?

Vốn vay ngân hàng, thu phí của dân

Trong các hợp đồng BOT được tham khảo, hầu hết các nhà đầu tư đều đi vay vốn ngân hàng với tỷ lệ lớn có khi lên đến hơn 85% và vốn tự có chỉ 15%.

Hợp đồng BOT đoạn Quốc lộ I Cai Lậy, Tiền Giang với chiều dài khoảng 40km. Tổng vốn đầu tư gần 1.400 tỷ, nhưng chủ đầu tư chỉ có trên 200 tỷ, vay gần 1.200 tỷ đồng.

Dự án mở rộng đoạn quốc lộ I tỉnh Bình Thuận chiều dài 44,7 km, tổng vốn đầu tư gần 2.600 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu chỉ gần 400 tỷ đồng, còn lại vay gần 2.200 tỷ đồng (chiếm 85% tổng vốn).

Nhiều hợp đồng BOT khác vốn chủ sở hữu cũng chỉ 15%, còn lại đi vay ngân hàng.

Dự án mở rộng quốc lộ I đoạn qua tỉnh Bình Định và Phú Yên có tổng vốn đầu tư hơn 2.000 tỷ. Nhưng vốn chủ sở hữu chỉ có gần 280 tỷ, chỉ chiếm khoảng 13,67%, còn lại là 1.762 tỷ đồng đi vay, chiếm 86,3% tổng vốn đầu tư.

Về mặt luật pháp, các nhà đầu tư không sai. Nhưng Luật sư Trương Thanh Đức - Chủ tịch HĐTV công ty TNHH Luật Basico, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cho rằng, quy định nhà đầu tư có tối thiểu 15% vốn trên tổng vốn đầu tư dự án BOT hoặc ít hơn với dự án trên 1.500 tỷ là quá thấp. Nhà đầu tư thực hiện dự án chủ yếu dựa vào vốn vay, lãi suất cao, chẳng khác gì “tay không bắt giặc”.

Thậm chí, ở đây còn có sự vô lý thể hiện ở chỗ, nhà nước huy động tư nhân vào đầu tư hạ tầng vì nhà nước thiếu tiền. Nhưng nhà đầu tư tham gia đầu tư hạ tầng cũng lại chỉ dựa vào vốn vay để thực hiện dự án.

“Nếu để nhà nước đi vay bằng trái phiếu, rồi đầu tư làm đường, chắc chắn lãi suất thấp hơn việc nhà đầu tư đi vay ngân hàng”, ông Trương Thanh Đức băn khoăn và cho rằng cần nâng tỷ lệ này lên 50%, thậm chí 70%.

Vì sao các ngân hàng lại rộng rãi cho vay các dự án BOT như thế? Bởi vì mức lãi vay để tính toán thời hạn hợp đồng được Bộ GTVT và các nhà đầu tư tạm tính ở mức khá cao, ở mức 10-12% (có điều chỉnh trong trường hợp lãi suất thực tế trung bình hàng năm thay đổi).

Như thế, mỗi dự án đều phải trả lãi vay hàng trăm tỷ đồng trong quá trình đầu tư dự án. Và thực tế, đã có chủ đầu tư khi xin tăng phí đã tuyên bố nếu không tăng phí thì phá sản vì tăng cũng mới chỉ đủ trả lãi ngân hàng.

Ông Đức băn khoăn: “Tôi xem xét các hợp đồng đường bộ BOT, gần như nhà đầu tư không có rủi ro. Đáng lẽ, trong trường hợp này lãi ngân hàng phải cực thấp, làm sao được cao như thế”.

Không có dự án nào an toàn chắc chắn trong tất cả lĩnh vực cho vay. Nhưng cho vay dự án đường bộ BOT thì ngược lại. Ngân hàng chắc chắn không bao giờ mất vốn. Như thế họ sẽ cho vay càng nhiều càng tốt.

“Tôi mà làm ngân hàng tôi cũng muốn cho vay”, ông Đức nói.

Đảm bảo có lãi, không bao giờ lỗ?

Nghiên cứu các điều khoản về thu phí, Luật sư Trương Thanh Đức không khỏi giật mình vì nhiều điều khoản đảm bảo nhà đầu tư không có rủi ro gì về mất vốn đầu tư, kể cả trường hợp bất khả kháng, thiên tai, chiến tranh, thay đổi pháp luật…

Cũng tương tự, ông Bùi Danh Liên, Chủ tịch Hiệp hội vận tải TP Hà Nội thốt lên: “Quá chiều nhà đầu tư rồi!”

Những tình tiết trong hợp đồng từ thay đổi thiết kế, giá vé, chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, cho đến mật độ phương tiện, thiên tai địch họa, lãi suất ngân hàng… nếu ảnh hưởng doanh thu nhà đầu tư đều được bảo vệ bằng cách kéo dài thời gian thu phí. Bình luận điểm này, một chuyên gia am hiểu về BOT chia sẻ: “Điều này có nghĩa, nếu không được tăng giá vé thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến nhà đầu tư. Giá vé không tăng mà thời gian thu phí tăng lên gấp đôi thì nhà đầu tư cũng không sao”.

Đáng chú ý, ở điều khoản về sự kiện bất khả kháng, các hợp đồng cũng cài thêm nhiều lý do khiến nhà đầu tư được kéo dài việc thu phí.

Thậm chí, mục này còn có nội dung nếu việc thu phí không đảm bảo hoàn vốn cho nhà đầu tư như tính toán, thì “Bộ GTVT sẽ xem xét phối hợp cùng nhà đầu tư trình cơ quan chức năng có liên quan và Chính phủ hỗ trợ cho nhà đầu tư về cơ chế, chính sách, đảm bảo việc thu hồi vốn và lợi nhuận cho nhà đầu tư”.

Điều khoản này còn được quy định thoáng hơn trong Hợp đồng Cai Lậy – Tiền Giang, Bộ GTVT và nhà đầu tư không phải trình cơ quan nào khác về việc thay đổi thời gian thu phí, mà hai bên tự thương thảo theo hướng kéo dài cho nhà đầu tư.

Cụ thể: “Trường hợp doanh thu thu phí không đảm bảo hoàn vốn cho nhà đầu tư theo như tính toán tại phương án tài chính trong hợp đồng thì Bộ GTVT sẽ xem xét phối hợp cùng nhà đầu tư tính toán lại theo hướng kéo dài thời gian thu phí cho nhà đầu tư”.

Bất khả kháng thường chỉ quy định về thiên tai, địch họa, những tình huống bất thường ngoài tầm kiểm soát chứ không thể vì bài toán kinh doanh tính sai cũng được đưa vào để miễn nhiễm trách nhiệm.

“Những dự án kinh doanh khác, khi có sự kiện bất khả kháng thì nhà đầu tư vẫn phải gánh chịu. Riêng các dự án BOT này tuyệt đối an toàn, luôn luôn có lãi, không thể lỗ. Nó chỉ thu hồi vốn nhanh hay chậm”, ông Trương Thanh Đức nhấn mạnh.

Còn ông Bùi Danh Liên nhận xét: 'các điều khoản trong các hợp đồng này đều bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư đến cùng". Luật sư Trương Thanh Đức có chung quan điểm: “Tóm lại quy định trong những hợp đồng này tuyệt đối chắc chắn, có lợi lớn cho nhà đầu tư, song lại vô cùng bất lợi cho người sử dụng, ảnh hưởng cho hiệu quả của cả nền kinh tế”.

Theo ông Bùi Danh Liên, nhìn các hợp đồng này, có thể thấy “nhà đầu tư được ký hợp đồng cũng ngon lành, người cho nhà đầu tư vay vốn cũng ngon lành. Chỉ khổ là người dân, các DN phải trả phí”.

Nhắc đến câu chuyện từ Hà Nội về Thái Bình 100km tới 4 trạm thu phí, tiền phí đường nhiều hơn tiền xăng dầu, đại diện các DN vận tải Hà Nội trăn trở: “Xin mời các vị quan chức bỏ tiền túi ra, đi xe biển trắng thì mới thấm đòn phí BOT”.

Hà Duy

Ngày 13 tháng 05 năm 2016

867. Chúa trời và con đường đáy biển

XUÂN DƯƠNG

07:47 13/05/16
(GDVN) - Dù chọn sao hay chọn đường mòn thì điều quan trọng nhất vẫn là đích đến. Chọn sai đường sẽ mất thời gian, chọn sai đích sẽ mất tương lai

Có một chủng tộc khiến nhiều người ngưỡng mộ, nhưng cũng không ít người ghen ghét vì sự thông minh là người Do Thái, dân tộc này có một ngày lễ trọng trong năm là “Lễ Quá hải” còn gọi là Lễ Vượt biển (Jewish Passove) [1]. “Lễ Quá hải” bắt nguồn từ câu chuyện lịch sử được đề cập chi tiết trong Kinh Thánh – phần Cựu Ước.

Chuyện kể về hành trình chạy trốn khỏi Ai Cập của người Do Thái cổ đại đã được Chúa giúp đỡ bằng cách tách đôi biển cả thành một con đường cho dòng người chân trần, đói khát băng qua.
Khi quân Ai Cập đuổi đến, Chúa khép biển trở lại khiến vô số quân lính Ai Cập chết đuối.

Người Do Thái được Chúa ban cho mảnh đất chỉ có cát trắng và nắng nóng nhưng họ vô cùng biết ơn bởi họ có được điều quý giá nhất là Tự do.
Tự do chắp đôi cánh cho Sáng tạo vì thế ngày nay dù là một quốc gia nhỏ bé chưa đến 20 triệu người, Do Thái vẫn là một cường quốc trên bản đồ chính trị toàn cầu.

Nếu người Do Thái được Chúa ban cho rừng vàng, biển bạc, nhưng họ loay hoay tìm mãi mà vẫn chưa hiểu ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ “Tự do”, liệu Sáng tạo có được chắp thêm đôi cánh?

Ngay cả khi đã có đôi cánh, nếu không gian của Sáng tạo lại là chiếc lồng “Tự do” được hút chân không thì dù kiên trì đến mấy cũng không thể cất cánh.
Muốn giang rộng đôi cánh, phải có bầu trời.

Có người cho rằng, Chúa trời không công bằng với chính những đứa con của mình, Người cứu vớt đứa con Do Thái mà lại hy sinh đứa con Ai Cập.

Tuy thế, không thể nói Chúa đã sai lầm, bởi Người đã sớm nhận thấy sự lụi tàn của đế chế Ai Cập, một trong số ít nền văn minh rực rỡ nhất địa cầu.
Sự tàn bạo của các Pharaoh trong cai trị dân chúng, sự ngạo mạn trong việc xây Kim tự tháp hòng đạt đến sự bất tử là con đường tự nhiên dẫn đến diệt vong.
Thế nên, hy sinh đứa con ngạo ngược, chuyên chế để giữ lại những đứa thông minh mới chính là sự sáng láng của Chúa.
Những đứa con được Chúa cứu vớt đã sản sinh cho nhân loại khoảng 160 nhà khoa học được giải Nobel, chiếm 20% tổng số người được giải toàn cầu.

Nơi trần thế này chẳng hiếm trường hợp vua chúa, quan lại vì những đứa con riêng của mình mà hy sinh cả bàn dân thiên hạ, vì phe nhóm của mình mà dửng dưng nhìn dân lành sống mòn trong đói khổ, bệnh tật, nhìn đất nước bị ngoại bang dày xéo…

Có một thành phố, nơi khí thiêng hội tụ, nơi “tinh hoa” chen chúc, khi dân chúng kêu gọi đổi thay, người đứng đầu bảo “không vội được đâu”.

“Không vội” nghĩa là cứ chờ, là giữ nguyên như cũ, không vội là dẫu có sai thì cũng chưa cần sửa?
Điều nguy hiểm nhất của “không vội” là không cần phát triển, là chấp nhận trở thành kẻ đi sau, là biến đất nước thành bãi rác cho kẻ đi trước xả thải?

Quan điểm “không vội” không biết từ bao giờ đã thành phương châm xử thế của cả một hệ thống. Rừng bị tàn phá: không vội; sông cạn trơ đáy: không vội; dân bị tù oan: không vội; thực phẩm bẩn lan tràn: không vội…

Bộ phim truyền hình Đảo Đười Ươi (Orangutan Island) do kênh truyền hình Khám phá thế giới (Discovery World HD) trình chiếu mô tả hoạt động tại một Trung tâm cứu hộ đười ươi.
Hàng trăm cá thể đười ươi mồ côi được cứu hộ về đây chăm sóc, khi khỏe mạnh chúng được thả lên một hòn đảo, trở về cuộc sống hoang dã.

Điều lo lắng nhất của nhân viên Trung tâm cứu hộ là bầy đười ươi khi thả về rừng bị mất đi hầu hết bản năng tự nhiên.
Chúng không biết bẻ cành cây làm chỗ ngủ, không chịu leo cây mà đi trên mặt đất, nhiều con ngủ ở gốc cây, bụi cỏ, chúng chờ người mang thức ăn tới, tranh giành nhau khiến phần lớn thức ăn rơi vãi xuống nước…

Có một nơi được khẳng định là tiến hóa hơn, văn minh hơn xã hội đười ươi, nhưng một bộ phận không nhỏ cá thể “không phải đười ươi” ở đó dù không cùng loài song lại giống lũ đười ươi Orangutan Island đến kinh ngạc. 

Sự giống nhau đầu tiên phải kể đến là bẩn, đặc biệt là ăn bẩn, ăn không chừa một thứ gì, không chỉ “ăn” các thứ có thể nhai mà còn “ăn” cả các thứ không thể nuốt, tỷ như “danh hiệu anh hùng”.

Sự giống tiếp theo là “gãi”, đười ươi ngồi đâu cũng gãi, bạ chỗ nào gãi chỗ ấy, đằng này “gãi” là một biện pháp chống “dị nghị” nên giới hạn chỉ được phép gãi từ vai trở xuống… 
Mã di truyền của những cá thể “không phải đười ươi” là bắt nạt kẻ yếu, khúm núm trước kẻ mạnh, nếu “to xác” một tí thì tìm cách tranh giành địa vị con đầu đàn.

Được nuôi dưỡng bên trong những hàng rào sắt, khi tự do cũng là lúc lũ đười ươi Orangutan Island mất đi khả năng sáng tạo mà thiên nhiên ban cho tổ tiên của chúng.
Dẫu có dạy dỗ mãi thì chúng cũng không thấm vào đầu chút gì, ngoại trừ khả năng bắt chước.

Điều này có phải cũng  đúng với xã hội loài người?

Trong một Vương quốc hùng mạnh, vị Quân vương anh minh không thể có đám cận thần dốt nát. Có thể có những kẻ tham lam, quỷ quyệt nhưng chắc chắn đó đều không phải là người đần độn.
Nếu trong đám cận thần được Quân vương tuyển chọn có quá nhiều người thiếu trí tuệ, thừa lòng tham thì liệu Quân vương có phải là bậc tài cao, đức trọng?

Một trưởng “cấp Cục” gọi chủ tư bản doanh nghiệp nước ngoài là “đồng chí”? Làm đến trưởng của một Cục, người ta chắc chắn phải được dạy dỗ đến nơi đến chốn về lý luận.
Bộ “sưu tập” bằng cấp chắc phải là một tập dày gồm bằng đại học (mà cũng có thể là thạc sĩ hoặc tiến sĩ) mấy bằng lý luận sơ, trung, cao... Không biết khi học người ta có dạy cho cá thể ấy “đồng chí” nghĩa là gì?

Cũng có thể, trên con đường tiến hóa, cá thể ấy có cách định nghĩa “đồng chí” của riêng mình, nếu đã đi trước thời đại như vậy, ngồi ở vị trí ấy để làm gì?
Còn nếu vẫn là thành viên “nhóm không vội” nghĩa là không đi trước thời đại, vì sao “được dạy dỗ đến nơi đến chốn” mà lại không thấm được chút gì vào đầu, lại xem kẻ bóc lột đồng bào mình là “đồng chí”?

Một “cấp Sở” khi được thông báo, rằng hòn đảo vốn được mệnh danh là “thiên đường chim hải âu” nay không còn bóng chim nào đã trả lời “chim chết là việc chim chết, không liên quan gì đến tôi”? [2].
Thế nhưng lại có chuyện một cán bộ khác bị mất ba con chim, thế là khởi tố, thế là bắt giam mấy kẻ ngỗ ngược dám cả gan trộm chim chào mào quan Sở .

“Chim trời” vốn không phải của Sở nên có chết cũng chẳng liên quan gì, “chim Sở” dù chẳng phải  “của Trời” nhưng dẫu sao vẫn là tầm … “chim Sở”.

Chúa cho dân Do Thái mảnh đất khô cằn, chỉ có nắng nóng và cát bụi.
Người tin dân Do Thái sẽ sống tốt vì Người biết “Kẻ dẫn dắt” trong đám con dân Do Thái đã sớm nhận thấy hạnh phúc trong nước biển và ánh sáng, ánh sáng trở thành điện, điện biến nước biển thành nước ngọt, nước ngọt đem đến mùa màng bội thu…

Nếu người Do Thái cứ ngồi khóc trong hào quang ánh sáng, cứ mơ ước về một thiên đường xa vời chưa bao giờ hiển hiện, liệu họ có được như ngày nay?

Dân tộc nào, xã hội nào cũng có giai đoạn thăng trầm, sau vinh quang là cay đắng, cam tâm sống trong cay đắng chỉ là Con, biết nuốt tủi hổ vươn lên sẽ là Người.

Trên thế gian, không phải chỉ có một con đường duy nhất để “Con” biến thành “Người”, vấn đề là “Con đầu đàn” chọn sao trên trời để định hướng hay nhìn đường mòn để bước theo?

Dù chọn sao hay chọn đường mòn thì điều quan trọng nhất vẫn là đích đến. Chọn sai đường sẽ mất thời gian, chọn sai đích sẽ mất tương lai.

Trên đời này có ai dám khẳng định mình nhìn thấy chính xác tương lai phía trước? Nếu đã không chắc xã hội loài người tương lai chính xác sẽ thế nào thì dựa vào đâu để khẳng định nó là thiên đường chứ không phải ảo vọng, làm sao biết đang đi đúng hướng hay chệch hướng?

Trí tuệ con người vốn không có giới hạn, vốn luôn luôn phát triển. Những gì mà bộ não con người có thể nghĩ ra, sớm muộn sẽ trở thành hiện thực.

Tuy nhiên đó phải là những suy luận logic, phù hợp với quy luật tự nhiên chứ không phải kiểu “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”.
Áp đặt cái thiển kiến của một người cho muôn người không phải là sản phẩm trí tuệ, đó chỉ là sự cưỡng bức mang màu trí tuệ.

Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều đã từng khắc khoải thốt lên:

Bất tri tam bách dư niên hậu; Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
(Chẳng biết hơn ba trăm năm sau, Người đời có ai khóc Tố Như chăng?
)

Truyện Kiều trở thành cẩm nang cho một nét văn hóa dân gian là “Bói Kiều”, vậy nhưng Tố Như cũng không thể biết hậu thế vài trăm năm sau sẽ có ai khóc cho số phận của ông?
Tài liệu tham khảo:
[1]Cụm từ "Jewish Passover” dịch sát nghĩa là “Lễ Vượt qua” song vì nó gắn với câu chuyện vượt biển của người Do Thái nên nhìn chung, các học giả vẫn dịch là “Lễ Quá hải” hay “Lễ Vượt biển”
Xuân Dương


Ngày 10 tháng 05 năm 2016

866. FORMOSA HÀ TĨNH 'ĐẺ NON' VÀ ‘PHỚT LỜ BẢO ĐẢM MÔI TRƯỜNG'

Ts. NGUYỄN THÀNH SƠN
Chúng tôi đã từng chủ trì và/hoặc tham gia soạn thảo và/hoặc thực hiện các thủ tục trình các cơ quan nhà nước phê duyệt các Báo cáo đầu tư, PFS, FS, ĐTM, các Hồ sơ mời thầu v.v. của các dự án nhiệt điện chạy than của TKV có tổng mức đầu tư mỗi dự án khoảng 120÷600 triệu U$.
Qua nghiên cứu Báo cáo đầu tư của dự án Formosa (2008) có tổng mức đầu tư giai đoạn đầu lên tới 7,897 tỷ U$, chúng tôi thấy tiến độ chuẩn bị đầu tư (từ khảo sát tình hình đến cấp giấy phép) của dự án này nhanh đến khó tin.
Đi sâu tìm hiểu, chúng tôi thấy cần nêu ra dưới đây những bất cập có liên quan đến trình tự/thủ tục đầu tư cũng như chất lượng của dự án Formosa để các cơ quan chức năng và/hoặc có thẩm quyền của VN tham khảo, góp phần nhanh chóng điều tra kết luận về nguyên nhân của vụ cá chết ở ven bờ biển miền Trung theo yêu cầu của Thủ tướng:
Tóm tắt dự án
Chủ đầu tư dự án liên hợp thép - cảng Sơn Dương Hà Tĩnh (gọi tắt là Formosa) gồm 6 công ty:
- Công ty cổ phần hữu hạn nhựa công nghiệp Đài Loan
- Công ty cổ phần hữu hạn nhựa công nghiệp Nam Á
- Công ty cổ phần hữu hạn sợi hóa học Đài Loan
- Công ty cổ phần hữu hạn dầu khí Formosa
- Công ty cổ phần hữu hạn công nghiệp nặng Formosa
- Công ty trách nhiện hữu hạn Sunsco Holding Ltd.
Dự án Formosa Hà Tĩnh được chia thành 3 giai đoạn:
* Giai đoạn 1 (gồm 2 bước):
- Bước 1-1, đầu tư liên hợp luyện gang thép và cảng công suất 7,5 triệu tấn/năm;
- Bước 1-2, sẽ nâng công suất lên đạt và 15 tr.t/năm;
Tổng mức đầu tư bước 1-1 (gồm tổ hợp gang-thép và cảng biển Sơn Dương) khoảng 7,897 tỷ đô la.
* Giai đoạn 2: xây dựng tổ hợp nhà máy lọc dầu công suất 15 tr.tấn dầu thô/năm và 1,2 tr.tấn ethylene/năm;
* Giai đoạn 3: Xây dựng cảng Sơn Dương thành cảng tổng hợp phục vụ trung chuyển hàng hóa trong khu vực (gồm cả bắc Thái Lan và nam Lào).
Địa điểm triển khai: Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh. Tổng diện tích chiếm đất chỉ riêng giai đoạn 1 là 44.476.751m2 (4.448 ha), bao gồm toàn bộ cảng biển sâu nhất khu vực miền Trung là Sơn Dương.
Như vậy, có thể thấy, Formosa là một “siêu dự án” được triển khai trên một địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng của VN.
Thủ tục đầu tư đã được tiến hành theo kiểu đối phó
Nếu tính cả 3 giai đoạn, Formosa là một dự án rất lớn, có tổng mức đầu tư hàng chục tỷ đô la. Nhưng thời gian nghiên cứu, khảo sát, làm thủ tục, xin giấy phép rất ngắn. Điều này cho phép nghi ngờ chất lượng của dự án “chục tỷ đô” này. Cụ thể như sau:
Theo báo cáo của Formosa, năm 2007, “sau nửa năm nghiên cứu khỏa sát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam”, Formosa đã “Mời lãnh đạo tỉnh Hà Tính, đại diện văn phòng chính phủ Việt Nam, đại diện bộ công thương và bộ kế hoạch đầu tư Việt nam đến Đài Loan thăm và khảo sát, tìm hiểu các vấn đề…” “Báo cáo với thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của thủ tướng; Báo cáo với thủ tướng Hoàng Trung Hải về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của thủ tướng; Báo cáo với chánh văn phòng quốc hộ Trần Đình Đàm về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của ngài chánh văn phòng” (hết trích dẫn nguyên văn, kể cả sai ngữ pháp).
Sau đó, ngày 09/11/2007, Chủ tịch Công ty Sunsco Holding Ltd. (có trụ sở tại quần đảo Cayman, vùng Caribe - nằm giữa Cu Ba và Jamaica, là thiên đường của các công ty để rửa tiền và trốn thuế) và chủ tịch tổng công ty Formosa công nghiệp nặng có trụ sở ở Đài Bắc đã gửi “Thư quan tâm đầu tư” (thực ra chỉ là một mảnh giấy tiếng Anh, không có tên người ký, không có địa chỉ phát hành, không dấu, không logo v.v.) gửi UBND Hà Tĩnh bầy tỏ kế hoạch đầu tư vào Khu kinh tế Vũng Áng tổ hợp nhà máy luyện thép với tổng công suất 15 triệu tấn/năm; đồng thời bầy tỏ “hy vọng được trao đổi với các sở/ban ngành có liên quan của Hà Tĩnh về kế hoạch đầu tư, và được tổ chức gặp để báo cáo thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để kế hoạch nhận được giấy phép của chính phủ trung ương sớm nhất có thể”.
Sau khoảng 1 tháng, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự ký văn bản số 3182/UBND-CN2 ngày 12/12/2007 v/v đầu tư vào Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa. Văn bản này đã “đề nghị Tập đoàn tiến hành khảo sát, lập hồ sơ các dự án báo cáo Chính phủ VN, các Bộ ngành Trung ương có liên quan và UBND tỉnh Hà Tĩnh để kịp thời hoàn chỉnh thủ tục đầu tư theo qui định hiện hành”. Đây thực chất là một văn bản vô trách nhiệm (bỏ qua các thủ tục tìm hiểu/đánh giá về năng lực của chủ đầu tư) và trái thẩm quyền (góp phần làm phá vỡ các qui hoạch lớn về kinh tế của Chỉnh phủ, gồm các qui hoạch về thép, điện, cảng biển v.v).
Sau đó 12 ngày, Tập đoàn Formosa đã thực hiện xong ý kiến chỉ đạo tại văn bản nói trên của Phó chủ tịch Hà Tĩnh Võ Kim Cự, xây dựng xong báo cáo đầu tư về hai dự án khu liên hợp luyện thép (15 tr.t/năm) và cảng tổng hợp Sơn Dương (200.000 DTW) để trực tiếp báo cáo phó thủ tướng Hoàng Trung Hải vào ngày 24/12/2007.
Sau đó 3 ngày, ngày 27/12/2007, Tổng giám đốc Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng Ngô Quốc Hùng đã có thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó khẳng định: “Chúng tôi đã xây dựng Báo cáo đầu tư về hai dự án trên để trình Chính phủ Việt Nam. Theo đó thời gian hoàn thành lò cao thứ 1 của giai đoạn 1 được rút ngắn từ 48 tháng xuống còn 36 tháng. Nay chúng tôi xin gửi tới ngài báo cáo đó, rất mong được Ngài và các cơ quan hữu quan của Chính Phủ Việt Nam sớm chấp thuận.” và hứa: “Ngay sau khi nhận được sự chấp thuận của chính phủ Việt nam, chúng tôi sẽ triển khai việc lập báo cáo tiền khả thi và tháng 3/2008 sẽ trình lên các cơ quan hữu trách của Việt Nam.” (hết trích dẫn).
Qua sự việc trên cho thấy, Báo cáo đầu tư của dự án qui mô hàng chục tỷ đô la chỉ được thực hiện vỏn vẹn trong vòng 12 ngày, đã được trình lên tới Chính Phủ VN.
Ngày 15/01/2008, Tổng giám đốc Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng Ngô Quốc Hùng, từ Đài Bắc đã gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Thư bảo đảm xin đầu tư xây dựng dự án cảng Sơn Dương và khu liên hợp gang thép tại Hà Tính”.
Mặc dù thư này được gửi cho Thủ tướng, nhưng ngay ngày hôm sau, từ Hà Tĩnh, phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Kim Cự đã ký công văn số 102/UBND/CN2 ngày 16/01/2008 về việc đầu tư vào Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa (Đài Loan). Công văn này đã khẳng định: “Sau khi xem xét văn thư ngày 15/01/2008 của Tập đoàn Formosa (Đài Loan) về việc cam kết đầu tư Dự án cảng Sơn Dương và Dự án nhà máy luyện thép công suất 15 triệu tấn/năm… UBND tỉnh Hà Tĩnh xin báo cáo và đề nghị như sau: … Formosa là Tập đoàn có các nguồn lực và kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn, đặc biệt là dự án cảng biển và luyện thép… Kính đề nghị Thủ tướng Chính Phủ và các Bộ, ngành liên quan cho phép Tập đoàn lập dự án trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thực hiện dự án nói trên”.
Như vậy, bằng công văn 102/UBND/CN2 ngày 16/01/2008 nói trên phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đã cố tình hợp thực hóa công văn số 3182/UBND-CN2 ngày 12/12/2007. Văn bản trên còn cho thấy rõ hành động vô trách nhiệm của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Trong khi Formosa là đối tác được thế giới bêu danh hàng đầu trong lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường, thì, chỉ trong vòng 24h, sau khi Formosa “cam kết đầu tư” với Thủ tướng, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã khẳng với Thủ tướng: “Formosa là Tập đoàn có các nguồn lực và kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn, đặc biệt là dự án cảng biển và luyện thép”!!!.
Những ưu đãi không có cơ sở
Mặc dù Formosa chưa trình dự án, ngày 28/02/2008, Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng- Hà Tĩnh đã lập “Biên bản ghi nhớ về điều kiện ưu đãi đầu tư cho dự án nhà máy thép và cảng Sơn Dương”. Biên bản này đã nêu cụ thể 14 mục ưu đãi đối với Formosa. Trong đó, có những mục như “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực”. Đây là hành động “cầm đèn chạy trước ô tô” của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Vì, sau đó 4 ngày, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ký văn bản số 323/TTg-QHQT ngày 04/3/2008 “về việc đầu tư xây dựng Nhà máy luyện thép và cảng nước sâu tại Hà Tĩnh”, trong đó có nội dung: “UBND tỉnh Hà Tĩnh chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành có liên quan chỉ đạo Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư và hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư, tổ chức thẩm định Dự án và hồ sơ theo quy định hiện hành của Luật đầu tư, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”.
Sau khi có ý kiến chỉ đạo trên, thay vì phải “hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư” theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, ngày 25/3/2008, cũng chính Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng, đã ký “Biên bản ghi nhớ bổ sung, sửa đổi về điều kiện ưu đãi đầu tư cho dự án nhà máy thép và cảng Sơn Dương”. Trong đó, mục “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực” đã được sửa đổi thành: “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực. Trước khi hết hạn thuê đất 2 năm nếu có nhu cầu, nhà đầu tư (FORMOSA) phải trình UBND tỉnh Hà Tĩnh đơn xin thuê đất cho thời gian tiếp theo và trong vòng 03 tháng (kế từ ngày nhận được đơn xin thuê đất), UBND tỉnh Hà Tĩnh có trách nhiệm trả lời nhà đầu tư. Khi đó, FORMOSA là nhà đầu tư được ưu tiên để tiếp tục thuê đất nhưng chính sách thuê đất được áp dụng theo quy định của luật Việt Nam tại thời điểm hiện hành”.
Qua sự việc trên cho thấy, trong khi chủ đầu tư chưa trình Dự án, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ký biên bản thỏa mãn tất cả các yêu cầu của chủ đầu tư. Đặc biệt, việc giao đất 70 năm được bổ xung các điều kiện được chấp nhận kéo gần như vô thời hạn.
Mặc dù Báo cáo đầu tư của Formosa chưa được lập và chưa được các cơ quan hữu quan phê duyệt, ngày 09/4/2008, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự đã ký văn bản số 858/UBND-CN2 về việc xác nhận ưu đãi đầu tư cho Tập đoàn Formosa. Văn bản này đã đưa ra 5 ưu đãi về thuế, 3 ưu đãi về đất, 2 ưu đãi về bồi thường, giải phóng mặt bằng, 4 hỗ trợ về hạ tầng kỹ thuật, 2 hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, và 1 hỗ trợ về chi phí quảng cáo. Riêng về ưu đãi thuê đất, văn bản đã khẳng định “Thời gian cho thuê đất là 70 năm. Khi hết hạn thuê đất, nếu có nhu cầu, Formosa sẽ được ưu tiên tiếp tục thuê đất; chính sách thuê đất được áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam tại thời điểm đó”.
Nhờ có những ưu đãi “từ trên trời rơi xuống”, ngày 11/4/2008, hai ngân hàng Hongkong and Shanghai Banking Corporation Ltd. (HSBC) và Mega International Commercial Bank Co., Ltd đã có “Thư quan tâm” gửi cho Formosa. Trong đó, HSBC đã lưu ý nếu chính sách của chính phủ thay đổi thì Thư quan tâm này sẽ cần được HSBC khẳng định lại!
Những rủi ro về môi trường chưa được xem xét
Dự án Formosa có nhà máy luyện gang thép với công nghệ lạc hậu, nên phải dùng than mỡ để luyện coke cho lò cao. Nhu cầu than mỡ hàng năm phải nhập khẩu là 3,623 triệu tấn để luyện ra 2,52 triệu tấn coke (xem tr.24, Thuyết minh tổng hợp). Ngoài ra, hàng năm Formosa phải sử dụng khoảng 0,642 triệu tấn dolomit; 1,442 triệu tấn đá vôi, và 1,296 triệu tấn than cám.
Quy trình luyện coke thải ra rất nhiều độc tố vì than mỡ dùng để luyện coke thường có chứa các chất rất độc hại và nguy hiểm, như: sulphure (≈ 0,3%) chlorine (≈0,03%), phosphorous (≈0,001%); và arsenic (≈0,004%).
Như vậy, Chỉ riêng 3 loại chất cực độc (là chlorine, phosphorous, và arsenic) chứa trong than mỡ đã khoảng 0,035%. Với lượng tiêu dùng 3,623 triệu tấn/năm, chỉ riêng khâu luyện coke sẽ thải ra môi trường dưới mọi hình thức ít nhất 1.268 tấn/năm chất cực độc nói trên.
Đáng lưu ý, những loại than dùng để luyện coke được Formosa đã nhập về VN đều là những loại than rẻ tiền. Thay vì nhập khẩu than mỡ, Formosa đã nhập khẩu than bitum vào VN để luyện coke. Cụ thể, năm 2014, Formosa đã nhập khẩu 960.466 tấn than bitum từ Indonesia với giá bình quân gần 84 U$/tấn và năm 2015, Formosa đã nhập khẩu 87.923 tấn than bitum từ Canada để luyện coke với giá bình quân 82 U$/tấn. Các thành phần độc tố nói trên trong các loại than bitum rẻ tiền này chắc chắn còn cao hơn nhiều so với trong than mỡ đắt tiền (khoảng 200 U$/tấn).
Nhà máy luyện coke của Formosa theo thiết kế có công suất 2,86 triệu tấn/năm. Như vậy, cũng theo thiết kế, lượng khí lò coke (COG) hàng năm lên tới 1,4 tỷ Nm3 (trong điều kiện bình thường) và thải ra khoảng 1,1 triệu tấn xỉ/năm. Ngoài than luyện coke, nhà máy này còn phải sử dụng 1.906 tấn dầu rửa/năm.
Điều đáng lo ngại là trong Báo cáo đầu tư, Formosa đã cố tình không đưa ra các đặc tính kỹ thuật cũng như các thành phần hóa học của các loại nguyên liệu đầu vào được đưa vào sử dụng trong dự án (trong đó có các thành phần độc tố trong than luyện coke và dầu rửa).
Vấn đề bảo vệ môi trường không được đề cập trong Báo cáo đầu tư
Như trên đã nêu, ngày 25/3/2008, phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ký văn bản “Đồng ý chủ trương Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa - Đài Loan lập Dự án đầu tư Nhà máy liên hợp thép tại Khu kinh tế Vũng Áng và Cảng nước sâu Sơn Dương tỉnh Hà Tĩnh như đề nghị của UBND tỉnh Hà Tĩnh tại văn bản nêu trên” (số 102/UBND-CN2 ngày 16/01/2008).
Nhưng ngay trong năm 2008 (không rõ tháng), Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã trình “Báo cáo dự án đầu tư khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh”. Báo cáo đầu tư gồm 2 phần: phần I- Thuyết minh tổng hợp (tổng luận, 116 trang khổ A4) và phần phụ lục; phần II- Giải trình kinh tế-kỹ thuật (gồm 5 chương, 281 trang khổ A4).
Đối với một dự án nhậy cảm với môi trường, có mức đầu tư tới 7,897 tỷ U$, nội dung Báo cáo đầu tư này đã được lập hoàn toàn đối phó, không theo các quy định hiện hành của Luật đầu tư. Trong đó, đặc biệt là phần liên quan đến bảo vệ môi trường.
Trong Thuyết minh tổng hợp, Mục 9.9 “Bảo vệ môi trường” (tr.87÷94) được thực hiện rất sơ sài và rất mơ hồ. Trong đó, mục 9.9.2 “Ứng dụng các giải pháp không chế ô nhiềm” gồm: khống chế ô nhiễm không khí (2 trang); khống chế ô nhiễm nước (1 trang); tận dụng chất thải rắn (>2 trang); khống chế tiếng ồn (<1 trang).
Trong “Giải trình kinh tế-kỹ thuật”, mục 3.2 “Hệ thống cung cấp nước và xử lý nước thải” cũng vỏn vẹn có 4 trang khổ A4 (tr. 3-37÷3-41, kể cả 2 trang hình vẽ). Trong đó, mục 3.2.2.3 “Hệ thống xử lý nước thải” có tổng số chưa đầy 12 dòng (5 dòng về “dự kiến”, 4 dòng về “nước thải sinh hóa” và 2 dòng về “nước thải công nghiệp”).
Với nội dung rất sơ sài của một Báo cáo đầu tư như trên, nhưng, trong một thời gian ngắn kỷ lục, chủ đầu tư đã được cấp đất và triển khai dự án. Điều này đặt ra câu hỏi về chất lượng của các hồ sơ dự án do chủ đầu tư lập, trong đó có Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và chất lượng tổ chức thẩm định dự án của phía VN trước khi cấp phép.
Việc quản lý môi trường bị buông lỏng
Như chúng ta đã biết, Formosa là một dự án thuộc lĩnh vực luyện kim (có gắn với cảng biển và sản xuất nhiệt điện tự dùng). Công nghệ của nhà máy thuộc loại lạc hậu (phải sử dụng coke để luyện gang). Quy trình sản xuất gang thuộc loại liên hoàn và liên tục. Khối lượng chất thải các loại (rắn, lỏng, khí) rất lớn, có chứa nhiều chất độc hại, và được thải ra liên tục. Chỉ riêng chất thải lỏng được phê duyệt thải ra môi trường tới hàng chục nghìn m3/ngày.
Thế nhưng, việc quan trắc, giám sát từ phía các cơ quan của nhà nước lại chỉ thực hiện theo chu kỳ. Đặc biệt, việc xử lý các chất cực độc phát sinh từ công nghệ luyện coke-gang-thép đã không được kiểm soát khách quan và liên tục. Đây là một kẽ hở lớn mà chủ đầu tư có thể lợi dụng để chỉ cần trong vòng vài phút có thể thải hết ra biển hàng tấn chất cực độc như Chlorine, Phosphorous, Arsenic.
Để làm sáng tỏ vấn đề này, cơ quan chức năng cần công bố toàn văn ĐTM và những tài liệu liên quan đến việc phê duyệt ĐTM của dự án.
Câu hỏi, liệu hàng tấn chất cực độc nêu trên có dẫn đến cá chết hàng loạt hay không? chúng tôi xin nhường lời cho các nhà khoa học hóa sinh./.
Hà Nội, ngày 01/5/2016

NTS /Chuyên gia tư vấn độc lập/(Tác giả gửi BVB)

Ngày 22 tháng 04 năm 2016

865. AI BẢO KÊ ÔNG TRẦM BÊ

Huy Đức - huyduc's facebook

Quốc hội sẽ để Thống đốc Nguyễn Văn Bình yên với cam kết ngân sách không ảnh hưởng khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua 3 ngân hàng với giá 0 đồng? Quốc hội cũng để ông Bình liều mình “cứu chúa” bằng cách để NHNN đứng ra “nhận ủy quyền” phần vốn âm nhiều chục nghìn tỷ đồng của gia đình ông Trầm Bê sau khi sáp nhập ngân hàng Phương Nam (Southern Bank) vào Sacombank?
Southern Bank là một ngân hàng vi phạm gần như tất cả các quy định mang tính nguyên tắc mà Luật ràng buộc đối với một tổ chức tín dụng.
Hai cổ đông lớn nhất đều sở hữu cổ phần vượt 5% vốn điều lệ (ông Trầm Bê sở hữu 8,36%; con gái, Trầm Thuyết Kiều, sở hữu 7,36%). Nhóm cổ đông trong gia đình ông Trầm Bê và người có liên quan sở hữu tới 26,26% vốn điều lệ trong khi Luật cho phép tối đa chỉ 20%.
Đặc biệt, 71,28% tổng dư nợ được tập trung cho các nhóm khách hàng với mức cho vay mỗi nhóm vượt nhiều lần quy định so với vốn tự có của Southern Bank.
Cũng như Nguyễn Văn Mười Hai sử dụng “Nước Hoa Thanh Hương”, ông Trầm Bê đã sử dụng Southern Bank như một công cụ huy động vốn. Thường, những khoản “vốn” này được dùng để kinh doanh địa ốc.
“Khách hàng” Thạch Thị Thúy An – nhân viên tín dụng của Southern Bank – được vay 280 tỷ VND mà không cần tài sản thế chấp gì để một thời gian sau thì đưa về 25 “sổ đỏ”. “Khách hàng” Thạch Thị Qui – nhân viên phòng đầu tư – vay 280 tỷ cũng không thế chấp gì và khi bổ sung tài sản đảm bảo thì lại là 28 “sổ đỏ”.
Việc rút hàng trăm tỷ đồng rồi sau đó mang “sổ đỏ” về còn được lặp lại với hàng loạt “khách hàng”: Phạm Thị Ngọc Điệp, 280 tỷ VND; Lưu Thị Lợi, 280 tỷ VND; Châu Khương, 457 tỷ VND; Diệp Thị Linh, 384 tỷ VND; Ngô Thị Bích Duyên, 380 tỷ VND; Trương Cẩm Linh, 390 tỷ VND…
Hàng chục công ty “khách hàng” của Phương Nam được lập ra để “vay” hàng trăm, hàng nghìn tỷ từ Phương Nam mà các cổ đông có khi là con dâu, con rể ông Trầm Bê hoặc “cháu ông Trầm Bê”, “cháu vợ ông Trầm Bê và có khi chỉ là một “nhân viên tập sự” của chính ngân hàng này (Ngày 2-2-2012 bà Trương Cẩm Linh được “nhận thử việc” tại Công ty quản lý nợ của Phương Nam; Ngày 10-2-2012, bà Linh được “cho vay” 390 tỷ).
Nếu không phải là con cháu trong nhà thì “khách hàng” của Phương Nam cũng là những
người nằm trong “nhóm lợi ích” như Bầu Kiên; như nhóm của “Bầu” Thắng Đồng Tâm (có số dư nợ tới 6-2012 là 4.440 tỷ VND); như nhóm công ty của Trần Minh Chí – em vợ Thủ tướng đương nhiệm (có số dư nợ tới 6-2012 là 1.245 tỷ VND)…
Rất nhiều “hợp đồng tín dụng” chỉ như để rút tiền ra khỏi ngân hàng. Hàng trăm tỷ được rút ngay một lần và không ai biết rõ những số tiền khổng lồ đó được đưa đi đâu vì con số thực chi cho các “dự án” so với quy mô thế chấp vay tiền là vô cùng nhỏ.
“Khu dân cư Trần Thái” – của ông Trần Minh Chí, em vợ Thủ tướng – được định giá 603 tỷ VND, đã vay và dư nợ tới 6-2012 là 249 tỷ VND, nhưng cùng thời, các chi phí tư vấn, giám sát, đền bù cho người dân và các chi phí quản lý công trình cho công trình này mới được ghi nhận là 12,58 tỷ đồng. Tương tự, 110.158 m2 đất tại xã Phong Phú huyện Bình Chánh được định giá 551 tỷ đồng, trong khi trên thực tế Phong Phú chỉ mới chi đền bù 24 tỷ đồng chứ chưa làm gì cả.
Làm thế nào để năm 2012, khi Phương Nam đã lỗ lũy kế 15.756 tỷ VND, ông Trầm Bê lại còn có thể thu gom cổ phiếu của Sacombank.
Không phải ngẫu nhiên khi rất nhiều khoản “vay” của các “khách hàng” có liên quan tới ông Trầm Bê cho những dự án mà chúng ta thấy là chi tiêu rất nhỏ so với các khoản tiền đã giải ngân. Những lần “tăng vốn” cho chính Southern Bank, lần theo các khoản vay và góp vốn, thấy rất rõ sự liên quan giữa việc gia đình ông Trầm Bê đã “rút” tiền gửi của khách hàng với việc “góp vốn” vào ngân hàng.
Trong lần tăng vốn đợt 2, từ 3,2 nghìn lên 4 nghìn tỷ, (tháng 6-2012), gia đình Trầm Bê “góp” 289,4 tỷ VND. Trong các khoản vay cùng thời điểm, ta thấy: Ngày 4-6-2012, “khách hàng” Nguyễn Thị Hồng, con dâu ông Trầm Bê, vay 140 tỷ, “khách hàng” Nguyễn Thị Thu Hà vay 150 tỷ từ Southern Bank
Cùng ngày 4-6-2012, Southern Bank “giải ngân” 280 tỷ, ngày hôm sau “giải ngân” tiếp 10 tỷ, tất cả đều được chuyển vào tài khoản của “Công ty Thành Long”, nơi con rể Trầm Bê là Lê Trọng Trí làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 4-6-2012, Lê Trọng Trí rút hết 280 tỷ đồng ra khỏi tài khoản Thành Long.
Ngay trong ngày 4-6-2012, người ta thấy “22 cổ đông” nhà Trầm Bê mua cổ phần với số tiền 280 tỷ 243 triệu. Ngày 5-5-2012, Lê Trọng Trí rút 9 tỷ đồng; cùng ngày, con trai ông Trầm Bê – Trầm Trọng Ngân – mua cổ phần với số tiền 9 tỷ 217 triệu.
Những sai phạm này có thể chưa cần phải “hình sự hóa” nếu nó không gây hậu quả to lớn như những gì ông Trầm Bê gây ra ở Southern Bank.
Tính tới 30-6-2012, dư nợ cho vay của Phương Nam là 51.300 tỷ VND; vốn chủ sở hữu đã thực âm 11.653 tỷ VND trong khi những khoản vay lên đến hàng chục nghìn tỷ khác của Phương Nam lại ở trong tình trạng “một đi không trở lại”. Chỉ tính trong số 42.829 tỷ VND dư nợ được thanh tra, đã có 9.531 tỷ VND có khả năng mất vốn; 8.529 tỷ VND khó có khả năng thu hồi khi xử lý tài sản.
Ông Trầm Bê, với tư cách Chủ tịch hội đồng tín dụng đã cho vay tới 6.343 tỷ đồng không có tài sản đảm bảo và đứng trước nguy cơ mất vốn; 3.236 tỷ VND khác được cho vay với tài sản đảm bảo không đủ điều kiện thế chấp, được đánh giá là có khả năng mất vốn; 8.521 tỷ khác cho vay với tài sản chưa hoàn tất thủ tục pháp lý, khó có khả năng thu hồi nợ.
Phải chăng sau Vinashin, thất thoát hàng nghìn tỷ đồng vẫn có thể được Quốc hội và NHNN coi là “chuyện nhỏ”.
Ở thời điểm đầu năm 2012, Southern Bank đã hội đủ bệnh tật để bị kiểm soát đặc biệt. Ai đã đưa ra kịch bản thâu tóm Sacombank hòng “đánh bùn sang ao”. Vì sao NHNN đã im lặng để “nhái ốm” Southern Bank “nuốt” xong “con rắn hổ mang” Sacombank rồi mới “nhận ủy quyền” món nợ từ ông Trầm Bê đã trở nên chồng chất.
Theo tính toán của Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, chi phí minh bạch mua một cổ phiếu Sacombank của ông Trầm Bê lên đến hơn 30 nghìn VND/ cổ phiếu trong khi ông chỉ có thể thu lợi khoảng 25 nghìn VND/ cổ phiếu (gộp cả cổ tức tính từ khi mua). Sáp nhập vào Sacombank rõ ràng là một cuộc đào thoát chứ không phải là một thương vụ.
Vào thời điểm Trầm Bê thâu tóm cổ phiếu Sacombank, đầu năm 2012, Southern Bank đang lỗ 15.756 tỷ VND, nợ xấu đang ở mức 45,6%. Vào thời điểm Trầm Bê và các thân hữu của ông “thôn tính” Sacombank, nợ xấu của Southern Bank lên tới 55,31%. Con số tuyệt đối thì mới kinh hoàng.
Quốc hội nên dành cho Thống đốc Nguyễn Văn Bình một ngày trên hội trường, để các đại biểu và, đặc biệt, các thành viên Ủy ban Tài chánh & Ngân sách chất vấn ông Nguyễn Văn Bình.
Chỉ cần bạch hóa hồ sơ về những gì ông Trầm Bê đã làm ở Southern Bank, các vị sẽ biết rõ cái gọi là tái cấu trúc ngân hàng, xử lý nợ xấu là gì. Chỉ cần xem xét vài hồ sơ “đảo nợ” ở Southern Bank, các vị sẽ rõ các món nợ đã được “làm đẹp sổ sách” như thế nào, sẽ hiểu vì sao GDP vẫn tăng mà nền kinh tế thì càng èo uột, ngân sách thì trống không mà quan chức và các con nợ thì vẫn chi xài như đại gia.
Nếu không dùng ngân sách thì ông Bình sẽ dùng phép thần thông nào để chi trả nhiều chục nghìn tỷ đồng thâm thủng ở Southern Bank và các ngân hàng “0 đồng” khác.
Cách “tái cấu trúc” ngân hàng của Thống đốc Nguyễn Văn Bình có thể sẽ nuôi được các con bệnh ngân hàng qua mùa Đại hội nhưng khi những món nợ nhiều chục nghìn tỷ đồng của ông Trầm Bê và của các “ngân hàng 0 đồng” liên tục đáo hạn ông Bình sẽ chi trả cho dân bằng gì.

Các sai phạm của ông Trầm Bê thì khác gì với ông Thắm Đại Dương, với ông Danh ngân hàng Xây Dựng. Từ 2012 tới nay, ai đang bảo kê cho ông Trầm Bê.

Ngày 26 tháng 02 năm 2016

864. ĐÃ BA NĂM RỒI, VẪN CÒN ĐÓ, MỘT LỜI ĐE DỌA!

Nguyễn Đăng Quang

Cách đây tròn 3 năm, ngày 25/2/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến làm việc với Thường vụ Tỉnh uỷ và Lãnh đạo chủ chốt tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, ông đưa ra lời đe dọa 72 nhân sỹ trí thức ký tên vào “Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp 1992” cùng những người dân tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể đòi quyền lợi hợp pháp của mình là những kẻ “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”  và rồi đe dọa “phải xử lý” những người này!

Tối hôm đó, VTV phát trên Kênh 1 nội dung ý kiến phát biểu của ông Trọng ở Vĩnh Phúc. Ngay sáng hôm sau, nhà báo trẻ Nguyễn Đắc Kiên của báo Gia đình & Xã hội, trong bài viết đầy dũng khí “Vài lời với ông Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng”(1) đã phê phán ý kiến phát biểu và chỉ trích thái độ sai trái của TBT Trọng ở tỉnh Vĩnh Phúc! Chưa đầy 24 tiếng đồng hồ sau, nhà báo trẻ dũng cảm Nguyễn Đắc Kiên bị toà báo Gia đình & Xã hội cho thôi việc!

Bình luận về ý kiến nói trên của ông Nguyễn Phú Trọng, giáo sư Hoàng Xuân Phú ở Viện Toán học - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, trong bài viết “Là thực thi quyền hiến định đấy, ông Trọng ạ!”(2), đã phân tích và chỉ rõ lời phát biểu của ông Trọng ở Vĩnh Phúc là sai trái! Dẫn lại lời của ông Tổng Bí thư:“Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì.ì?””, Giáo sư Hoàng Xuân Phú phân tích cho ông Trọng thấy và hiểu được “biểu tình” tự nó là quyền hiến định của công dân, được ghi rõ tại Điều 69 Hiến pháp 1992:“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.” Cho đến nay, Nhà nước ta vẫn chưa có Luật Biểu tình, nên mệnh đề “theo quy định của pháp luật” không có tác dụng hạn chế quyền biểu tình. Nghĩa là, theo Hiến pháp 1992, thì công dân luôn luôn có quyền biểu tình ôn hòa, và quyền ấy không bị hạn chế bởi pháp luật. Giáo sư Hoàng Xuân Phú so sánh: Việc công dân đi biểu tình khi chưa có luật về biểu tìnhcòn chính đáng và hợp pháp hơn so với việc ĐCSVN hoạt động khi chưa có luật quy định về khuôn khổ hoạt động của ĐCSVN, vì như mọi người đều rõ, các cơ quan Đảng và Nhà nước “ chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn người dân được làm những gì pháp luật không cấm.”  Giáo sư Hoàng Xuân Phú kết luận: Ông Trọng không thể tìm được cơ sở pháp lý nào để có thể phủ định quyền biểu tình của công dân!

Còn việc khiếu kiện thì sao? Khiếu kiện là quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Giáo sư Hoàng Xuân Phú chỉ rõ: Khiếu kiện cũng là quyền hiến định của công dân. Quyền này được ghi rõ trong Điều 74 Hiến pháp 1992:“Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.”  Hiến pháp 1992 cũng như các bộ luật hiện hành không có điều khoản nào cấm “khiếu kiện đông người” hoặc “ký đơn tập thể”. Do vậy, mọi Nghị định hoặc Thông tư của Chính phủ (tức các văn bản dưới luật) nếu có điều nào quy định “cấm khiếu nại đông người” hoặc “cấm ký tên tập thể” sẽ đều không có giá trị pháp lý, vì những văn bản này chính nó đã vi phạm luật pháp và Hiến pháp!

Giáo sư Hoàng Xuân Phú kết luận:“Biểu tình và khiếu kiện, dù với tư cách cá nhân hay tham gia ký đơn tập thể, thì cũng đều là thực thi quyền hiến định trong khuôn khổ pháp luật hiện hành. Nhân dân có quyền sử dụng các quyền hiến định đó, kể cả trong trường hợp ông hay ai đó cho rằng Hiến pháp chỉ là để trang trí! Vì vậy, ông không thể “quy kết” việc họ “tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể” là “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, rồi yêu cầu “các đồng chí quan tâm xử lý” được!”.

Như vậy là đã rõ, cả về đạo lý và pháp lý, ông Trọng đều không đúng!

Hưởng ứng lời kêu gọi của Quốc Hội toàn dân tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp, ngày 19/1/2013, ngay đợt 1 đã có 72 người ký tên vào bản “Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp 1992”(3), gọi tắt là KN72, mà sau này lên đến trên 15.000 người ký tên. Mọi người đều sững sờ và bức xúc trước sự quy chụp của TBT Trọng. Nhà giáo Dương Đình Giao, một cây bút phản biện sắc sảo, trong bài “Người đồng tuế”(4) đăng trên Blog ÔNG GIÁO LÀNG của mình, phải thốt lên:“Ai đời, kêu gọi người ta góp ý, còn nói sẵn sàng chấp nhận những ý kiến trái chiều, thế mà đến khi người ta phát biểu lại qui đó là suy thoái về tư tưởng, đạo đức!”  Tác giả Dương Đình Giao đã nói lên suy nghĩ của rất nhiều người!

Bản thân tôi lúc đầu cũng không tin ý kiến của ông Trọng phát biểu ở Vĩnh Phúc là thực, sợ rằng bộ máy tuyên truyền nói vống lên, vì một người lãnh đạo cao cấp sẽ không bao giờ nói như vậy, nên đầu tháng 3/2013 đã cùng một số anh chị em ký KN72 gửi thư cho ông Trọng đề nghị ông sắp xếp một buổi gặp chúng tôi với tư cách là Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri, để 2 bên hiểu rõ quan điểm và tránh hiểu lầm nhau (5). Hai lần gửi thư đi, chúng tôi đợi mãi, nhưng không hề nhận được hồi đáp, nên đầu tháng 5/2013 chúng tôi buộc phải gửi đơn đến Ban Công tác ĐBQH thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét tư cách Đại biểu Quốc hội đối với đại biểu Nguyễn Phú Trọng!(6) Không nhận được hồi âm, đầu tháng 10/2013, chúng tôi gửi tiếp thư thứ hai, thúc giục Quốc hội giải quyết kiến nghị của cử tri. Sau đó, có thể ông Trọng có chỉ thị nội bộ, nên hạ tuần tháng 10/2013, cơ quan cũ của tôi cử một lãnh đạo đến gặp và thuyết phục tôi “rút yêu cầu xem xét tư cách ĐBQH”, lý do đưa ra là “để không làm mất uy tín lãnh đạo Đảng”!? Tôi không chấp nhận!

Cho đến nay tôi vẫn coi đấy như một món nợ. Và thực sự, tôi không hiểu vì sao ông Trọng lại phản ứng thái quá, coi những người ký KN72 là “suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống để rồi đòi xử lý họ!”  trong khi 2 hiểm họa lớn của đất nước là GIẶC NỘI XÂM và GIẶC NGOẠI XÂM đang hòanh hành ngay trước mặt thì ông lại lặng thinh, bình chân như vại, như chẳng có gì xảy ra cả! Là người chịu trách nhiệm cao nhất, ông Trọng coi nạn tham nhũng – một căn bệnh ung thư đang di căn trong cơ thể Đảng – chỉ: “như ngứa ghẻ, phải gãi, rất khó chịu!”;  còn việc chống bọn quan tham phải thận trọng: “đánh chuột nhưng đừng để vỡ BÌNH!”. Trước nạn tham nhũng được coi là giặc nội xâm, khi nhận chức TBT khoá XI cách đây 5 năm cũng như khoá XII vừa rồi, ông Trọng không hề đưa ra một “đề án chống tham nhũng có lộ trình” cụ thể, và cũng chẳng có một “cam kết” tận diệt tham nhũng nào cả! Do vậy, nạn tham nhũng ngày trở nên trầm trọng! Bọn quan tham không chỉ là những con sâu, con chuột đơn lẻ như trước nữa, nay chúng phát triển lớn mạnh nhiều lần, trở thành những bầy sâu, đàn chuột, thậm chí là các “tập đoàn chuột sâu tham nhũng” rồi! Chính bọn này là thủ phạm giết sống ĐCSVN chứ không phải ai khác, càng không phải là những người ký “Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp 1992” hay những người tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm biển đảo, hoặc những bà con mất đất, mất nhà cùng nhau khiếu kiện và ký đơn tập thể đòi quyền lợi hợp pháp của mình nhưng bị ông quy là“suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống”! Tham nhũng không còn là nguy cơ nữa, đã trở thành giặc nội xâm rồi. Mong ông hãy đủ minh mẫn, chĩa lưỡi lê vào giặc, đừng chĩa lưỡi lê vào đồng bào mình!

Còn đối với bọn GIẶC NGOẠI XÂM, thái độ của ông thế nào? Trong suốt 3 năm qua, ông không một lần lên tiếng, mà im lặng đến đáng sợ! Trong 3 năm này, nhiều tầu thuyền đánh cá của ta bị tầu Trung Quốc đâm hỏng và nhiều ngư dân ta bị giết ngay trên ngư trường truyền thống của mình ở Biển Đông! Ông đâu có lên tiếng bảo vệ đồng bào mình? Tháng 5/2014, giữa lúc Hội nghị Trung ương 9 đang họp, Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của ta. Thế giới phản ứng mạnh, lên án Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam. Nhưng ông biệt tăm vô tín. Tại sao ông không dùng diễn đàn HNTW 9 đang họp để ra tuyên bố phản đối Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo của ta, mà ông giữ im lặng như không hề có gì xảy ra vậy? Rồi suốt trong năm 2015, Trung Quốc ngang nhiên bồi đắp 7 bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam ta thành các đảo nhân tạo để độc chiếm và quân sự hoá chúng. Ông vẫn im lặng. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản TQ Tập Cận Bình nhiều lần ngang ngược tuyên bố 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của tổ tiên chúng từ thời cổ đại! Thế giới phản ứng mạnh. Nhưng không thấy Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam lên tiếng phản bác gì? Sao ông lại im lặng đến lạ lùng như vậy?

Đối sách của ông trước 2 vấn đề lớn: một là với người dân, mặc dù ý kiến họ có thể trái ý ông, không cùng với suy nghĩ của ông, có thể làm ông mếch lòng, song họ là đồng bào của ông;  và hai là với bọn giặc nội xâm và giặc ngoại xâm, mặc dù chúng cùng ý thức hệ với ông nhưng lại là kẻ thù của nhân dân và đất nước Việt Nam, do vậy đòi hỏi ông phải hết sức tỉnh táo, không được lầm lẫn. Phải coi dân là rường cột của quốc gia và đừng để mất dân, ông ạ!

Nghe nói, trong buổi họp báo quốc tế gần đây khi ông được tái cử chức TBT, hình như ông có ca ngợi nền dân chủ ở Việt Nam là không đâu bằng, là “dân chủ đến thế là cùng!”. Câu nói làm tôi trạnh nhớ đến lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân chủ là phải để người dân mở miệng”! Ấy vậy, chúng tôi mới vừa mở miệng, mới chỉ “mở miệng góp ý”, chứ nào dám “mở miệng chỉ trích, đả phá” ai đâu mà sao ông nỡ vội đe dọa chúng tôi như vậy? Xin phép hỏi ông, vậy thì dân chủ của Việt Nam ta ở đâu? Và cái nội hàm “dân chủ đến thế là cùng” của ông là cái gì? Ông có thể cho nhân dân Việt Nam hưởng nó được không? Nếu ông và Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự thay đổi, và thực tâm muốn Việt Nam ta tiến đến một nền “dân chủ đến thế là cùng” như lời ông nói, có lẽ cơ hội thử nghiệm tốt nhất là dịp bầu cử Quốc Hội khoá 14 vào ngày 22/5 tới, thưa ông!

Trở lại lời đe dọa 3 năm về trước, có một sự việc có thể liên quan, đó là việc một cựu sỹ quan công an, một nhà hoạt động dân chủ - nhân quyền nhiệt huyết, một nhà báo sắc sảo, ông Nguyễn Hữu Vinh, người khởi xướng và điều hành trang blog uy tín BA SÀM bị bắt khẩn cấp cùng cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy vào ngày 5/5/2014 và bị khép vào“Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”  theo Điều 258 Bộ luật Hình sự. Đến nay, thiếu 70 ngày là tròn 2 năm, hai bị cáo trên bị giam giữ mà không được đưa ra xét xử như qui định của pháp luật, bởi các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn không chứng minh được hai bị cáo này có tội! Không chứng minh được công dân có tội, nhưng cứ tiếp tục giam giữ họ, không đưa ra xét xử, số lần trả hồ sơ để điều tra lại cũng như thời hạn tạm giam đều đã quá quy định của luật pháp, phải chăng họ cố tìm chứng cứ mới để buộc tội bằng được các bị cáo này? Tôi đề nghị, hãy tuyên bố kết thúc điều tra và trả tự do ngay cho các bị cáo. Nếu sau này tìm ra chứng cứ mới, sẽ lập chuyên án khác để xử lý sau. Còn bây giờ hãy trả tự do ngay cho họ. Đấy mới là thượng sách!
Bà Lê Thị Minh Hà, một cựu sỹ quan an ninh, đảng viên ĐCSVN, vợ của ông Nguyễn Hữu Vinh, trong bài viết “Chồng tôi có phạm tội không?”(7) đã khẳng định chồng bà VÔ TỘI và việc bắt giam ông Vinh là “ tùy tiện, vi hiến và trái pháp luật”. Bài đòi phải“Trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho ông Vinh”, “Huỷ bỏ Điều 258 Bộ luật Hình sự” và “Tôn trọng quyền tự do thông tin và báo chí của người dân Việt nam”. Còn giáo sư Hoàng Xuân Phú trong bài viết “Sai phạm trong tố tụng vụ án “Nguyễn Hữu Vinh cùng đồng bọn…” (8), sau khi phân tích khía cạnh pháp lý của Bản kết luận điều tra của Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an ngày 30/10/2014, đã đi đến 5 kết luận sau đây: Một là Buộc tội vu vơ, hai là Chứng cớ ngu ngơ, ba là Điều tra giả vờ, bốn là Giám định lơ mơ, và năm là Hồ sơ mập mờ! Ngoài ra, cả 6 luật sư bào chữa cho 2 bị cáo đều đã nhiều lần gửi kiến nghị, yêu cầu các cơ quan tư pháp trả tự do tức khắc cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy vì họ đều vô tội, và việc giam giữ họ là vi phạm luật pháp!

Ông Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự bị bắt giam đã gần 2 năm nay. Việc các cơ quan tố tụng không chứng minh được các bị cáo có tội nhưng vẫn cố tình giam giữ họ làm người ta nghĩ đây không phải là vụ án hình sự mà là vụ án chính trị! Việc “xử lý bắt bỏ tù này” có phải là hệ quả của LỜI ĐE DỌA ở Vĩnh Phúc 3 năm trước hay không, tôi không dám khẳng định! Nhưng việc nhà báo trẻ Nguyễn Đắc Kiên bị đuổi việc chỉ sau một ngày lên tiếng chỉ trích TBT Nguyễn Phú Trọng, và nay, nhà báo Nguyễn Hữu Vinh – một trong 72 người ký tên vào KN72 – bị bắt  giam suốt gần 2 năm qua mà chưa đem ra xét xử, làm cho dư luận dễ liên tưởng hai sự việc này có thể nằm trong “phạm vi điều chỉnh”của LỜI ĐE DỌA trên! Nếu  quả đúng như vậy thì cái danh xưng “Nhà nước Pháp quyền” phải được hiểu là gì đây? Còn cái nội hàm “Dân chủ đến thế là cùng!” là cái chi một khi người dân “Không được mở miệng” để phê bình chính phủ và chính đảng cầm quyền, thưa ngài Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng?

Hà Nội, ngày 25/2/2016.
N.Đ.Q.

Tài liệu tham khảo (mời độc giả click để đọc tiếp các bài liên quan)