Nhãn

Ngày 18 tháng 04 năm 2014

841. Chỉ có ở VN: Tập đoàn thế giới 'cò cử'... quan huyện

Tuanvietnam.net: Tình trạng các tập đoàn thế giới đến đây chủ yếu ngồi cò cử với quan tỉnh, quan huyện, và quan trên... chỉ có ở Việt Nam.

Nguyễn Đình Lương (Nguyên Trưởng đoàn đàm phán HĐTM Việt Nam - Hoa Kỳ)
Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ

Vấn đề tác động của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với Việt Nam: cơ hội và thách thức là vấn đề lớn, mới mẻ.
Rõ ràng, kinh tế toàn cầu hóa đang lan chảy một cách mau lẹ và đang kết nối gần như tất cả các nền kinh tế trên thế giới lại với nhau dưới những chiếc gậy thần của các Tập đoàn xuyên quốc gia.
Tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời ngày 1/1/1995, nay đã cơ bản hoàn thành sứ mệnh của nó là phá nát và dọn sạch những hàng rào bảo hộ, tạo ra một sân chơi thoáng cho nền kinh tế thế giới. Làm xong sứ mệnh đó, WTO đang trở thành một câu lạc bộ có thành phần quá đa dạng và phức tạp, không thể tìm được sự thống nhất để thiết kế một khung pháp lý mới rộng hơn, sâu hơn cho nền kinh tế toàn cầu hóa. Vòng đàm phán Doha dậm chân tại chỗ, coi như bế tắc.
Trong hoàn cảnh đó người ta phải phá rào, tách ra đi tìm những chỗ chơi thông thoáng, tự do hơn và từ đó các Hiệp định mậu dịch tự do FTA, song phương và khu vực được cổ vũ.
Chỉ người... giàu bàn chuyện hội nhập
Các FTA đang được cổ vũ ở đâu?
Người châu Phi da đen chưa muốn nghe chữ FTA, họ đang bận lo cơm áo hàng ngày, những người nói tiếng Ả rập chưa có thì giờ bàn chuyện FTA, họ đang mắc kẹt trong những câu chuyện về "Mùa xuân Ả-rập". Hăng hái bàn FTA chủ yếu ở khu vực người giàu, muốn giàu nhanh, đặc biệt ở Bắc Mỹ rồi đến châu Âu, châu Á.
FTA có những loại nào?
FTA có những dạng khác nhau, mức độ và phạm vi cam kết khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển và ý đồ chiến lược của các nước tham gia. Hiện tại đã có một số loại sau.
Loại FTA có mức độ cam kết thấp hơn, phạm vi hẹp hơn như các FTA mà ASEAN ký với các đối tác Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v... Ở đây người ta tập trung chủ yếu là giảm bỏ thuế XNK mở cửa thị trường cho hàng hóa tự do lưu thông, các lĩnh vực khác như đầu tư, dịch vụ, Sở hữu trí tuệ, v.v... phạm vi cam kết hoặc rất hạn chế hoặc chung chung ít ràng buộc.
Loại FTA cam kết ở mức cao hơn, chặt chẽ hơn, bền vững hơn, đó chủ yếu là các FTA song phương mà Hoa Kỳ đã ký với các nước, Canada, Austraylia, Singapore, Chi Lê, Hàn Quốc. Ở đây cam kết rất rộng, rất sâu, cả thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm công, có cả cam kết doanh nghiệp quốc doanh và môi trường, lao động. Đây có thể coi là FTA thế hệ mới.
Nếu đàm phán kết thúc, có lẽ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP sẽ là dạng FTA mới nhất, hiện đại nhất, có mức độ cam kết sâu rộng nhất, có những quy định chặt chẽ nhất. TPP đang được gọi là "Hiệp định thế hệ mới"; "Hiệp định của thế kỷ 21"; là "Câu lạc bộ của những người tự do kinh tế chủ nghĩa". Nó là sân chơi của những người giàu.
Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam đã rất dũng cảm quyết định vào chơi ở sân chơi đẳng cấp này. Cái ước mơ "sánh vai các cường quốc năm châu" của người Việt có thể được nhen nhóm từ đây nếu chúng ta thành công trong cuộc chơi này.
Không thể đi nhặt bóng cho người khác chơi gôn
Cho đến lúc này, Việt Nam chưa tham gia FTA thế hệ mới. Mỹ chưa đàm phán FTA song phương với Việt Nam. Việt Nam đang đàm phán TPP. Gia nhập TPP sẽ được coi là Việt Nam tham gia FTA thế hệ mới. Do đó xin phép chủ yếu phân tích tác động của TPP vào Việt Nam.
Với kết cấu nội dung và thành phần tham gia, TPP mang đậm màu sắc địa chính trị, những tác động của nó không chỉ tăng trưởng thương mại tức thời, mà sẽ tác động lâu dài, sâu sắc, vào thể chế, vào con đường phát triển, vào đường lối chính sách của Việt Nam. Những tác động nêu sau đây là những tác động lâu dài và sẽ là cơ hội nếu chúng ta xử lý tốt, và cũng là thách thức nếu chúng ta xử lý không thành công.
Tác động thứ nhất, TPP sẽ tạo sức ép tinh thần và pháp lý để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường có sức cạnh tranh.
Sân chơi TPP là sân chơi của những nước có nền kinh tế thị trường có sức cạnh tranh cao, rất cao, là những quốc gia có nền kinh tế mở, rất mở, đặc biệt là Hoa kỳ, Nhật Bản, Canada, Australia, Singapore... Trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh các nền kinh tế thế giới, các nước này luôn đứng đầu bảng.
Cuộc chơi trong TPP là cuộc chơi trên nền tảng toàn cầu hóa mà các quốc gia này là những quốc gia đã chuẩn bị đầy đủ nhất, tốt nhất, sẵn sàng nhất để khai thác các lợi thế của toàn cầu hóa.
Không có chuyện chiếc bánh lợi ích sẽ được chia đều cho tất cả những ai ngồi trên mâm toàn cầu hóa. Anh nào mạnh, anh nào giỏi sẽ giành phần hơn. Việt Nam phải có nền kinh tế thị trường có sức cạnh tranh mới mong được phần lợi lộc. Nếu không giỏi, không mạnh anh sẽ chỉ là người đi nhặt bóng cho người ta chơi gôn. Việt Nam cũng không thể đứng mãi ở vị trí áp chót trong chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển chủ yếu dựa vào lao động cơ bắp.
Những quy định rất chặt chẽ trong Hiệp định TPP nói lên rằng tất cả những cái gì không phải là kinh tế thị trường, thì phải xóa bỏ bằng hết. Điều đó có nghĩa là nó sẽ tác động vào cả thể chế, cả cách điều hành kinh tế, quản lý xã hội và Việt Nam sẽ có sự thay đổi sâu sắc trong cách vận hành nền kinh tế của mình.
Thực hiện xong những cam kết trong TPP Việt Nam đàng hoàng có một nền kinh tế thị trường, không cần phải áo the khăn xếp đi lạy xin ai công nhận cho Việt Nam có nền kinh tế thị trường.
Tác động thứ hai, TPP sẽ tạo điều kiện và sức ép để Việt Nam xây dựng một đội ngũ doanh nghiệp mạnh.
Trong một cuộc chiến tranh, đã có bộ tham mưu giỏi, nếu không có tướng tài lính thiện chiến trên chiến trường thì cũng không có chiến thắng. Trên thương trường, chính các doanh nghiệp giỏi là những người làm nên thành công.
Kinh tế toàn cầu hóa là cuộc đua giữa các đại gia, các tập đoàn xuyên quốc gia. Các tập đoàn xuyên quốc gia nắm trong tay vốn, công nghệ, sản xuất, thị trường. Họ chi phối cả thị hiếu tiêu dùng của thế giới những người tiêu dùng. Họ chi phối cả chính sách của cả quốc gia và quốc tế. Họ đang có mặt khắp mọi nơi. Ở Việt Nam các tập đoàn xuyên quốc gia đang triển khai các dự án lớn nhất, quan trọng nhất.
Nhà nước chỉ làm chức năng kiến tạo, Nhà nước lập khuôn khổ pháp lý cho phù hợp và tạo điều kiện cho dân, cho doanh nghiệp làm giàu cho mình và cho đất nước. Đội ngũ doanh nghiệp là bộ mặt quốc gia, là sức mạnh của nền kinh tế. Không thể có nền kinh tế mạnh mà đội ngũ doanh nghiệp yếu. Kinh tế Mỹ cũng thế, kinh tế Nhật cũng thế, kinh tế Hàn Quốc cũng thế và kinh tế nước nào cũng vậy.
Việt Nam phải có một đội ngũ doanh nghiệp mạnh mới có hy vọng thành công trong cuộc đua toàn cầu hóa. Tất nhiên không phải là Vinashin, Vinalines, cũng không phải là các đại gia chênh lệch giá đất. Các đại gia chênh lệch giá đất không có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới vì ở đó không có chênh lệch giá đất nhờ luật pháp tù mù như ở Việt Nam. Có thể hình dung là bồi dưỡng những loại doanh nghiệp như Viettel, FPT để họ sớm trưởng thành và phải có hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn doanh nghiệp mạnh hơn nữa.
Cái tình trạng các tập đoàn thế giới đến đây chủ yếu ngồi cò cử với quan tỉnh, quan huyện, và quan trên... chỉ có ở Việt Nam.
Những quy định chặt chẽ trong Hiệp định TPP nhắc chúng ta nhớ rằng quyền lợi và nghĩa vụ của các nhà đầu tư nước ngoài được xác định rất rõ ràng, đảm bảo cho họ đầy đủ tự do hoạt động trong một nền kinh tế tự do, lợi ích của họ được bảo hộ tuyệt đối vững chắc.
Việt Nam phải có những người giỏi để cùng người nước ngoài khai thác thị trường trong nước và đi khai thác ở các nước đối tác TPP, các nước khác như họ đang khai thác trong nước mình. Những người đó phải là những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp mạnh có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường thế giới.
Các nghị sĩ QH sẽ phải đau đầu

Tác động thứ ba, TPP tạo cơ hội và sức ép tinh thần, sức ép pháp lý để Việt Nam củng cố một Nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật. Ở đây có mấy việc phải làm song song.

Việc thứ nhất là phải hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống pháp luật. Hầu hết các quốc gia trong TPP đều có hệ thống pháp luật hoàn thiện và hiện đại của một quốc gia phát triển.
Có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và hiện đại Việt Nam mới hy vọng bảo vệ được lợi ích của mình. Nếu luật pháp không hoàn chỉnh Việt Nam sẽ rơi vào thế bất lợi, và chắc chắn luôn chịu thua thiệt.
Hoa Kỳ là quốc gia có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất hiện đại nhất. Hệ thống pháp luật của họ cũng là hành lang pháp lý vận hành nền kinh tế toàn cầu hóa, đủ mạnh để bảo vệ lợi ích nước Mỹ và công dân Mỹ ở bất cứ nơi nào, đủ mạnh để bảo vệ cho doanh nghiệp Mỹ làm giàu trên đất Mỹ và bất cứ nơi nào trên thế giới. Hoa Kỳ đang cố gắng để từng bước quốc tế hóa hệ thống luật Mỹ, trước đây thông qua WTO nay thông qua các FTA, TPP.
ĐBQH Việt Nam nhiệm kỳ 2001-2005 đã phải vô cùng vất vả đánh vật với cuộc cải tạo, sửa đổi hệ thống luật, từ kinh tế bao cấp độc quyền sang kinh tế thị trường, không phân biệt đối xử theo những cam kết trong Hiệp định thương mại (BTA) Việt Nam - Hoa Kỳ và để chuẩn bị gia nhập WTO.
Rồi đây các nghị sĩ có thể sẽ đau đầu khi luật hóa những khái niệm mới, những tiêu chuẩn mới chưa hề gặp phải mà Hoa Kỳ đang gò vào TPP. Âu đây cũng là cơ hội để ta hiện đại hóa luật pháp của ta cho thích ứng với kinh tế toàn cầu hóa.
Việc thứ hai, củng cố các tổ chức hỗ trợ tư pháp làm chỗ dựa cho các doanh nghiệp trong hội nhập: Xây dựng một hệ thống tư pháp mạnh; Xây dựng một hệ thống trọng tài mạnh; Xây dựng hệ thống các cơ quan hỗ trợ tư pháp mạnh (Hội Luật gia, Công chứng, Giám định);  Xây dựng một hệ thống thông tin pháp luật tốt;  Đào tạo đội ngũ chuyên gia pháp luật giỏi, hình thành mạng lưới các tổ chức tư vấn pháp luật giỏi (các vụ kiện quốc tế, cho đến nay Việt Nam toàn đi thuê tư vấn nước ngoài).
Nếu không có một hệ thống hỗ trợ tư pháp mạnh, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không thể trụ đứng được trong cuộc chơi toàn cầu, ngay chính trên đất nước mình.
Việc thứ ba, phải xây dựng bằng được "Văn hóa sống và làm việc theo pháp luật". Người dân phải biết luật, sống theo pháp luật phải biết tôn trọng pháp luật, phải biết sợ khi làm trái luật, có ý thức tránh những việc làm trái luật.
Doanh nghiệp kinh doanh phải theo đúng luật, biết sợ biết tránh làm trái luật, phải biết loại ra khỏi đầu ý nghĩ, lòng ham muốn lách luật, trốn thuế để trục lợi. Công chức cơ quan Nhà nước phải nắm luật để hướng dẫn thi hành, phải đôn đốc kiểm tra, thường xuyên kiểm tra. Ở đâu sai người phụ trách việc đó phải xuống tận nơi xử lý (không thể lúc nào cũng lập hết ủy ban này, ủy ban nọ, đoàn kiểm tra lớn, đoàn kểm tra bé. Thế giới không làm vậy).
Cơ quan tòa án chiểu theo luật mà xử, xử đúng luật đúng người, đúng tội; không phải chờ ý kiến chỉ đạo của ông này, bà kia. Không xử oan sai, nhiều hơn xử đúng. Không xử như tòa án Tuy Hòa, Phú Yên vừa qua.

Sống và làm việc theo pháp luật là thứ văn hóa phổ cập ở khắp nơi, không có lý do gì để Việt Nam làm khác.

Ngày 15 tháng 04 năm 2014

840. GSVS Trần Đình Long: Các Tổng công ty lương thực lộ vai... con buôn

Bích Ngọc (thực hiện)
Nông dân chúng tôi có gì?

Chúng tôi có lúa gạo.

Nhưng,

lúa gạo chúng tôi làm ra thuộc quyền sở hữu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, là những doanh nghiệp Nhà nước.

Hiệp hội Lương thực Việt Nam muốn bán gạo của chúng tôi cho nước ngoài bao nhiêu thì bán.

Giá bán gạo là một bí mật, nông dân không bao giờ được biết.

Hiệp hội Lương thực Việt Nam muốn mua lúa chúng tôi giá bao nhiêu thì mua.

Lợi nhuận hằng năm của Hiệp hội Lương thực Việt Nam là một bí mật, nông dân không bao giờ được biết.

Để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân – để bóc lột nông dân tận xương tủy – Hiệp hội Lương thực Việt Nam bày ra quỉ kế “mua lúa tạm trữ”.

Lừa bịp nông dân rằng mua lúa tạm trữ để giữ giá cho nông dân.

Đông xuân năm 2012,

giá lúa đang là 6.200 đồng/kg, Hiệp hội Lương thực Việt Nam tuyên bố mua lúa tạm trữ với giá không dưới 5.000 đồng/kg, để giữ giá lúa.

Vậy là giá lúa xuống còn 5.500 đồng/kg.

Giữ giá lúa cái con… khỉ khô, ăn cướp thì có.

Chỉ có bọn thần kinh không bình thường, hay bọn độc quyền mới ăn nói ngang ngược như vậy.

Vậy mà Chính phủ lại tin và cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam vay không lãi để mua tạm trữ.

Cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam vay không lãi để mua lúa giá không dưới 5.000 đồng/kg khi giá lúa đang là 6.200 đồng/kg.

Trò hề này không biết còn diễn đến bao lâu.

Cơ chế xuất khẩu gạo bất nhân, bất trí và bất lương này sao cứ tồn tại ngang nhiên? Phải chăng vì “gởi giá”?

Chính sách bần cùng hóa nông dân này không biết còn thực hiện đến bao giờ?


Việt Nam đang bị tình trạng “vô chính phủ về giống” lúa, còn doanh nghiệp thì thể hiện vai trò con buôn kiếm lời khiến nông dân luôn bị thiệt.

GS.VS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội giống cây trồng Việt Nam đã nói như vậy và đưa ra những lý giải cho nghịch lý nông dân Việt Nam hay rơi vào tình trạng được mùa, mất giá còn lúa gạo thì khó cạnh tranh.

Giống lúa - Bộ NNPTNT không điều khiển được!

PV: Thưa Tiến sĩ mấy ngày qua thông tin về một cuộc chiến giảm giá gạo trong châu Á đang hiện hữu khiến người dân rất lo ngại, bởi vốn dĩ giá gạo Việt Nam đã rất thấp. Người dân nhiều nơi đã bỏ ruộng nay giá lại thấp hơn nữa thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Là nhà khoa học ông suy nghĩ gì và có hiến kế gì với Nhà nước để giúp người nông dân đứng vững được trên mảnh ruộng của mình?

GS.VS Trần Đình Long: - Hiện gạo của chúng ta không chỉ cạnh tranh Thái Lan mà phải cạnh tranh với cả gạo Ấn Độ nữa. Thêm nữa lượng gạo bị ứ đọng nhiều nên việc giảm giá là tất yếu.

Vừa rồi thì Chính phủ đã đưa ra chính sách thu mua tạm trữ nhưng chính sách này cũng chưa phát huy được hết tác dụng của nó. Hơn nữa tạm trữ cũng chỉ mang tính chất tình thế. Thêm nữa doanh nghiệp cũng không mặn mà nên xu thế cũng giảm dần vì lý do tạm trữ thì sau này trả nợ cũng rất lo ngại.

Hiện nay các giải pháp cũng đang lúng túng cũng không biết cách nào khác. Nhưng do lúa gạo đang nhiều nên không thể bán đổ, bán tháo được. Do vậy trước mắt tạm trữ vẫn là tốt nhất.

Tuy nhiên trừ trước đến nay Nhà nước vẫn hỗ trợ các doanh nghiệp nhảy vào mua rồi dự trữ lúa gạo. Song tôi cho rằng tiền đó nếu hỗ trợ cho nông dân để người ta tự làm kho dự trữ có khi sẽ thuận lợi hơn.

Đây cũng là bài toán nếu nhà nước thực sự muốn xắn tay vào thì cũng phải có giải pháp ngoài các doanh nghiệp thì phải hỗ trợ trực tiếp cho nông dân.

Tiếp đến là bài toán dài hạn. Ngay trước mắt vụ này phải tập trung liên kết nông dân theo vùng nào tập trung vùng đó không phải cứ tràn lan làm kiểu mỗi người một giống nữa.

Cả hai việc này phải làm song song, tức là vừa giữ lúa gạo để tránh bán đổ bán tháo, vừa tìm cách nâng giá trị chuỗi sản xuất lúa gạo lên. Còn chuyện giảm giá tạm thời là bất khả kháng.


Theo GS Trần Đình Long, việc tạm trữ lúa gạo cũng chỉ là giải pháp tình thế

PV: - Thưa ông, có ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gạo Việt Nam mất giá là vì ta không có giống lúa tốt. Hiện nay Việt Nam việc cung ứng giống lúa đang gặp rất nhiều vấn đề. Người dân mạnh ai người đó trồng, doanh nghiệp thì chạy theo lợi nhuận, mua giống thương phẩm của Trung Quốc về bán cho nông dân với giá cao và phải phụ thuộc. Trong khi đó các Viện nghiên cứu lại chưa có những giống lúa để tạo được thương hiệu cho gạo Việt Nam, ông có đồng ý với ý kiến này không?

GS.VS Trần Đình Long: - Tôi xin khẳng định là Việt Nam không phải thiếu giống lúa bán giá 600USD/tấn. Trong số hàng trăm giống ở Đồng bằng sông Cửu Long thì ít nhất có tới 4-5 giống đáp ứng được yêu cầu trước mắt về năng suất, chất lượng và giá trị cao.

Nhưng về lâu dài vẫn phải làm tiếp để nâng cao giá trị giống lên. Vấn đề không phải khoa học kỹ thuật ở đây mà là câu chuyện quản lý tổ chức sản xuất. Tức là phải tổ chức từ khâu giống, chế biến sau thu hoạch, thương mại, quy hoạch vùng… để định hướng sản xuất.

Tôi biết có những nông dân cũng muốn trồng giống lúa giá trị cao nhưng khi trồng ra lại không bán được, không ai thu mua. Cho nên bài toán hiện nay là phải tổ chức lại sản xuất từ khâu gì, đưa cán bộ khoa học về với nông thôn cùng làm với nông dân.

Còn về ý kiến cho rằng Việt Nam phụ thuộc vào giống lúa của Trung Quốc thì cũng chỉ là lúa lai. Tỷ lệ lúa lai chiếm khoảng 500-600.000ha (tức là chiếm khoảng 10%) còn giống lúa thuần vẫn phải là giống lúa trong nước. Việt Nam có thể sản xuất một năm một triệu tấn lúa thuần.

Chỉ có điều như tôi đã nói ở trên trong số hàng trăm giống đó thì mỗi tỉnh, mỗi nơi ai muốn trồng giống lúa nào thì tùy chứ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng không điều khiển được.

Các nhà khoa học cứ hay quen gọi là “vô chính phủ về giống”. Thứ hai nữa là tỉ lệ giống tốt chỉ được 30% bởi vì khu vực Đồng bằng Sông cửu Long rất nhiều người dân đã tự làm giống.

Hơn nữa việc tổ chức sản xuất cũng chỉ hô khẩu hiệu trong khi những việc này Việt Nam có thể làm được. Chính vì vậy lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trả lời trên diễn đàn Quốc hội đến 5 năm nay vẫn tình trạng được mùa rớt giá nhưng giải pháp thì không cụ thể.

Tổng công ty Lương thực I và II chỉ là con buôn!

PV: - Thưa Giáo sư nhưng từng người dân thì không thể đứng ra đầu tư kho chứa hay công nghệ sau thu hoạch. Trong khi vai trò này đang được giao cho Tổng Công ty Lương thực miền Bắc và miền Nam song họ lại chưa làm tốt vai trò của mình. Theo ông cần phải thay đổi như thế nào?

GS.VS Trần Đình Long: - Chính xác là như vậy. Hiện Tổng công ty Lương thực miền Nam và miền Bắc đang đóng vai trò con buôn mà chưa nghĩ đến chuyện tạo vùng nguyên liệu, đầu tư tiền vào vật tư, công nghệ… để giải quyết đầu ra cho bài bản.

Đáng ra Nhà nước phải mạnh tay, can thiệp vào để hỗ trợ cho tổ chức sản xuất như thế nào nhưng đến giờ việc này rất mờ nhạt. Chính vì thế mỗi lần đăng đàn Bộ trưởng Bộ NN&PTNT lúng túng không trả lời được.

Sai lầm chiến lược phát triển nông nghiệp của mình là không đúng, không trúng, đầu tư kiểu giật gấu vá vai. Cứ hô chế biến sau thu hoạch nhưng chả có đầu tư gì. Đến nay đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch mới được 6% trong khi đáng ra phải là 20%. Còn các công ty thì nhảy vào đủ thứ để thu lợi nhuận theo kiểu mì ăn liền.

Do vậy phải tái cấu trúc 2 Tổng công ty này như là một doanh nghiệp khoa học kể bao tiêu từ sản xuất đến tiêu thụ chứ không thể làm kiểu đón lõng bán thóc và lấy lãi.

Cái khó là chính sách và cơ chế của ta đang hở sườn, giao quyền nhưng không quy trách nhiệm nên doanh nghiệp mới chỉ nghĩ đến bản thân chứ chưa nghĩ xa hơn.

Cái này là lỗi hệ thống!

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

B.N.
Nguồn: baodatviet.vn
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 17:20
Nhãn: nông dân


Ngày 31 tháng 03 năm 2014

839. Tình hình sở hữu chéo tại các TCTD

BY AZUL – MARCH 30, 2014 POSTED IN: NGÂN HÀNGNGÀNH

Nguồn: http://www.vietfin.net/tinh-hinh-so-huu-cheo-tai-cac-tctd/

30-3-2014 (VF) – Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng đang được nhìn nhận là vấn đề lớn nhất của hệ thống tín dụng Việt Nam bởi diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây cản trở nhất định đến quá trình cơ cấu lại hệ thống.

Theo cách phân nhóm của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, hiện có 6 nhóm sở hữu chéo khác nhau, gồm:[1]

Sở hữu của các ngân hàng trong nước và nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh;

Cổ đông chiến lược nước ngoài sở hữu tại các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước;

Cổ đông tại các ngân hàng là các công ty quản lý quỹ;

Sở hữu của các NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần;

Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần;

Sở hữu ngân hàng cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân.

Thống đốc NHNN – Nguyễn Văn Bình – cho biết, thực tế hiện nay đang tồn tại 6 cặp ngân hàng sở hữu chéo trực tiếp lẫn nhau; 34 TCTD có cổ đông một chiều là TCTD khác, trong đó một số ngân hàng TMCP có một số cổ đông là TCTD khác. Tình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng, mặc dù mới chỉ ở qui mô nhỏ, song đã có những tác động tiêu cực đến tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng này và toàn hệ thống ngân hàng.[2]

Trong ba năm qua, hàng loạt NHCP đã nâng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng, nhưng thực tế, gần như không có đồng vốn mới được bổ sung vào hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, do vốn điều lệ tăng, các ngân hàng được phép huy động tiền gửi lớn hơn và hàng nghìn tỷ đồng vốn từ ngân hàng lại được giải ngân cho những dự án “sân sau” của chính các ông chủ ngân hàng. Vụ Bầu Kiên tại Ngân hàng ACB là một ví dụ điển hình.

Những dự án “sân sau” này hoạt động không hiệu quả gây nên một lượng nợ xấu nhất định ở các ngân hàng. Tính đến cuối năm 2013, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng là 3,79%.[3] Tỷ lệ nợ xấu thực tế có thể còn cao hơn nhiều. Nợ xấu ở các ngân hàng đang là một phần nguyên nhân khiến cho tín dụng khó tăng trưởng bởi các ngân hàng vẫn huy động tiền nhưng không thể cấp vốn cho sản xuất mà phải để một phần lớn nuôi nợ xấu.

Theo thống kê của ngành ngân hàng, hiện tỷ lệ sở hữu chéo tại các ngân hàng hiện nay là khoảng 6%.[4] Mục tiêu của NHNN là hạn chế và chấm dứt tình trạng sở hữu chéo này để đảm bảo cho hoạt động của các TCTD an toàn, lành mạnh và minh bạch, góp phần thực hiện thành công Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015.

Để thực hiện mục tiêu này, từ năm 2013, NHNN đã triển khai một số bước:

Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, rà soát, chấn chỉnh các trường hợp vi phạm các quy định của Luật các TCTD năm 2010 và các quy định có liên quan đến vấn đề sở hữu chéo của các TCTD.
Xác định nguồn lực tài chính của các cổ đông của TCTD khi tham gia góp vốn, mua cổ phần tại TCTD.

Giám sát chặt chẽ quan hệ tín dụng của các đối tượng có sở hữu chéo.

Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo dõi, giám sát việc mua bán, chuyển nhượng cổ phần trên thị trường chứng khoán.

Trong các phương án tái cơ cấu của các TCTD, NHNN yêu cầu TCTD vi phạm các quy định về sở hữu chéo, đầu tư, giới hạn sở hữu vốn và cấp tín dụng cũng như các quy định an toàn khác phải có biện pháp xử lý.

Yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước, tổng công ty nhà nước xây dựng lộ trình thoái vốn đầu tư trong lĩnh vực ngân hàng.

Xây dựng các quy trình nhằm xử lý, ngăn chặn, phòng ngừa việc sở hữu chéo, đầu tư chéo.
_____
DHVP Research (2014). “Sở hữu chéo tại các tổ chức tín dụng Việt Nam,” DHVP Ecopolitik, Vol.4, No. 2, tr. 26-27, 22-3.
____

[1]: Đầu tư chứng khoán, Nhận diện 6 nhóm sở hữu chéo trong ngân hàng, 22-1-2014.
[2]: Dân trí, Đang tồn tại 6 cặp ngân hàng sở hữu chéo, 13-11-2013.
[3]: Trí thức trẻ, Cuối năm 2013 tỷ lệ nợ xấu còn 3,79%, 21-1-2014.
[4]: Trí thức trẻ, Tỷ lệ sở hữu chéo tại các ngân hàng hiện nay khoảng 6%, 19-3-2014.

Ngày 22 tháng 02 năm 2014

838. Điều gì sẽ xảy ra nếu VAMC thất bại?


Việt Nam có thể lâm vào khủng hoảng tài chính vì các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia sẽ hạ bậc tín nhiệm của Việt Nam, Việt Nam không vay nợ của nước ngoài được.
Theo chuyên gia phân tích cao cấp Hang Jin Yun của CTCP Chứng khoán KIS Việt Nam, tuy các nhà đầu tư (NĐT) ít nhiều kỳ vọng vào việc VAMC xử lý nợ xấu nhưng thực tế VAMC đang “mua thời gian”. Lượng tiền được đẩy ra nền kinh tế chỉ ở mức hạn chế. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn chuyên gia nước ngoài này về VAMC.
Thưa ông Hang Jin Yun, ông có thể cho biết một số điểm khác biệt cơ bản giữa cách xử lý nợ xấu của Hàn Quốc và Việt Nam được không?
Điểm khác biệt lớn nhất, công ty xử lý nợ xấu của Hàn Quốc là KAMCO mua lại nợ xấu với giá rất rẻ để có thể xử lý triệt để món nợ xấu đó. Còn VAMC lại mua lại nợ xấu với giá khá là cao, khó có thể bán lại nợ xấu đó cho người khác. Điểm thứ hai, KAMCO cũng mua lại toàn bộ ngân hàng dính nợ xấu và tái cơ cấu lại thành một ngân hàng mới. Còn Việt Nam giữ nguyên Ngân hàng.
Như vậy, tuy Hàn Quốc và Việt Nam đều sử dụng cùng một phương pháp là thành lập công ty mua bán nợ xấu để xử lý nợ nhưng cách thức thực hiện sẽ cho thấy là xử lý như thế nào thì triệt để hơn.
Vậy ông đánh giá khả năng xử lý nợ xấu của Việt Nam đến đâu?
VAMC thành lập cũng chưa được lâu. VAMC cũng mới tiến hành mua nợ xấu từ đầu tháng 10/2013 và nợ xấu đã mua cũng chưa được đem bán đấu giá nên hiện tại khó có thể đánh giá được.
VAMC mới mua lại nợ xấu mà chưa có kế hoạch xử lý cụ thể, thì chỉ giống như là “mua thời gian”, giãn nợ. Tuy nhiên, cũng có 2 lợi ích. Trước hết là các ngân hàng sẽ không bị ảnh hưởng mạnh. Thứ hai là Chính phủ không phải bỏ quá nhiều tiền để thực hiện tái cơ cấu.
Điểm yếu của VAMC là Ngân hàng nào không tự xử lý được các khoản nợ xấu của mình thì sau 5 năm, ngoài khoản nợ xấu phải nhận lại, họ còn gánh thêm những khoản nợ xấu phát sinh mới. Các Ngân hàng lại quay lại thời điểm bắt đầu.
Theo ông, Chính phủ Việt Nam không bỏ nhiều tiền để xử lý nợ xấu thì liệu có hiệu quả không?
Trước hết có thể thấy, VAMC mua nợ xấu không bằng tiền mặt mà bằng trái phiếu đặc biệt. Các ngân hàng lại đem trái phiếu đó để vay vốn tại NHNN với giá rẻ. Như vậy, các ngân hàng vừa xóa được nợ xấu lại vừa có khoản vốn mới để tăng trưởng tín dụng. Điều này có thể tác động tích cực đến nền kinh tế.
Có các trường hợp thế này. Thứ nhất là VAMC không bán được nợ xấu đó và sau 5 năm, số nợ xấu đó trả lại cho ngân hàng. Khi đó lại phân ra làm 2 trường hợp, một là các ngân hàng trong 5 năm đó đã trích lập dự phòng đầy đủ cho các món nợ của mình, hai là các ngân hàng không thể trích lập đủ dự phòng cho các khoản nợ. Như vậy, nợ xấu của Việt Nam đã không được giải quyết.
Trường hợp thứ hai, Chính phủ chấp nhận chịu lỗ, bán nợ với giá rẻ tức là "chịu chi" thì hiệu quả xử lý sẽ cao hơn. Trong cuộc khủng hoảng của Hàn Quốc, số tiền mà chính phủ Hàn Quốc bỏ ra để tái cơ cấu chiếm khoảng 40 – 50% GDP.
Tuy nhiên, Việt Nam khó có thể áp dụng tái cơ cấu triệt để như Hàn Quốc vì cần rất nhiều tiền. Trong nhiều năm Việt Nam liên tục thâm hụt ngân sách. Nếu Chính phủ chịu “chi” như thế thì thâm hụt ngân sách có thể lên tới trên 10%, đem lại những hậu quả khó lường. 
Ngoài ra, nếu mà bán với một mức giá quá thấp thì cũng sẽ vấp phải sự phản đối của người dân trong nước. Người dân gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ nghĩ rằng tài sản của họ tại sao lại bán cho nước ngoài với giá rẻ mạt như thế?
Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, bán nợ xấu với giá thấp, khi đó Tổng thống Hàn Quốc đã vấp phải sự phản đối biểu tình dữ dội của người dân.
Theo ông, nếu phương pháp xử lý nợ xấu bằng VAMC thất bại thì sao?
Nếu VAMC thất bại thì có một số trường hợp. Việt Nam có thể lâm vào khủng hoảng tài chính vì các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia sẽ hạ bậc tín nhiệm của Việt Nam, Việt Nam không vay nợ của nước ngoài được. Khi đó Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Chính phủ cũng rơi vào tình trạng vỡ nợ. Đương nhiên khi đó nền kinh tế Việt Nam rất nguy hiểm, khó có thể hồi phục.
Trường hợp khác, Việt Nam vẫn có thể đi vay được, thì nguồn vốn đó cũng không thể có giá rẻ. Thậm chí nếu vay được thì có thể ngay trong thời điểm đó không vỡ nợ nhưng về dài hạn vẫn có nguy cơ này do phải vay vốn lãi suất cao.
Là một nhà đầu tư nước ngoài, ông có muốn mua nợ xấu của Việt Nam không?
Nếu VAMC bán nợ với giá hấp dẫn thì tôi sẽ xem xét mua.
Theo ông, giá như thế nào thì hấp dẫn?
Phải xem khoản nợ xấu đó như thế nào. Nếu nợ đó thuộc diện khó mà đòi được thì phải mua với cái giá gọi là “vừa bán vừa cho”. Còn nếu khoản nào đó vẫn có tính minh bạch, “con nợ” và “chủ nợ” vẫn tồn tại thì có thể xem xét mua với giá cao hơn.
Theo ý kiến của tôi, nếu VAMC bán nợ với giá đắt hơn giá mua thì khó mà làm được vì theo mức chiết khấu mà VAMC mua trong thời gian qua, tức bằng 90 – 91% giá trị khoản nợ. Giờ mà bán với giá cao hơn thế thì chắc chắn là NĐT sẽ không mua. Đó là một món nợ xấu, bản thân nó đã chứa đựng những rủi ro rồi. Nếu bán với giá khoảng 30 – 40%, Chính phủ phải chịu lỗ thì mới có người mua được.

Hải Minh

Ngày 13 tháng 02 năm 2014

837. Nguyễn Trung: Chữ tín



Đại hội XII của Đảng Cộng Sản Việt Nam nên bắt đầu từ đi tìm chữ tín, làm tất cả mọi việc có thể để thực hiện chữ tín.

Thiết nghĩ đây là điều quan trọng nhất, thách thức đến mức sống hay là chết, ĐCSVN lúc này nên làm, nhất là quá trình chuẩn bị đại hội XII đã bắt đầu.

Sở dĩ đặt vấn đề như vậy là vì những lý do sau đây:

Một là:

Tuy chưa dám đụng tới bản chất của sự vật, nhưng tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng không dưới một lần đã phải nói trước toàn đảng và toàn dân tệ nạn quan liêu tham nhũng và sự tha hóa về phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ đảng viên đã tới mức đe dọa sự tồn vong của chế độ, làm cho lòng tin của nhân dân vào ĐCSVN giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó đất nước ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phải giải quyết vượt quá tầm năng lực của đảng. Tình trạng mất dân chủ và các thói hư tật xấu khác của tàn tích văn hóa phong kiến tiểu nông hầu như loại bỏ khả năng thay máu đổi mới đảng. Cái gọi là kiên định ý thức hệ xã hội chủ nghĩa một mặt là vũ khí bảo vệ quyền lực của đảng, nhưng đồng thời mặt khác là kẻ thù số một đối với mọi xu thế và nỗ lực trong đảng muốn đổi mới đảng[1]

Nhìn vào đời sống thực, phải nói từ gần một thập kỷ nay đất nước lâm vào một thời kỳ sa sút toàn diện và trầm trọng nhất chưa có lối thoát kể từ khi sự nghiệp độc lập – thống nhất của đất nước được hoàn thành ngày 30-04-1975. Đà phát triển năng động của đất nước bị chặn đứng; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia phải đối phó với những uy hiếp mới. 

Nguyên nhân hàng đầu của thực trạng nói trên là: Sự tha hóa của ĐCSVN trong thời bình đã chọn việc bám giữ vai trò cầm quyền (thực ra là vai trò cai trị) của mình làm mục tiêu tối thượng, sẵn sàng dùng mọi biện pháp tệ hại có thể của quyền lực để thực hiện mục tiêu này. Lợi ích quốc gia và quyền làm chủ của nhân dân phải xếp xuống hàng thứ hai và chỉ được thực hiện khi tình thế bắt buộc và trong chừng mực bảo toàn được quyền lực của đảng.  

Nói cho rốt ráo, quyền lực của ĐCSVN hôm nay thực chất chỉ còn lại là quyền lực của những người, những nhóm nắm thực quyền trong đảng; nghĩa là chính bản thân ĐCSVN với tính cách là một tổ chức cũng bị quyền lực của những người và những nhóm có thực quyền này chi phối. Sự chi phối này thể hiện rõ nhất ở chỗ cương lĩnh, điều lệ và những nguyên tắc làm việc trong đảng thường xuyên bị vi phạm ở mọi cấp, nhất là sự vi phạm từ trên xuống; dân chủ trong đảng thực ra không tồn tại.  

Hệ quả đối với toàn đảng là kỷ cương không nghiêm, tính tiền phong chiến đấu của đảng từng bước bị loại bỏ, trên thực tế đến hôm nay đảng chỉ còn lại là một lực lượng chính trị mạnh áp đảo, đang nắm trọn trong tay vận mệnh đất nước. 

Hệ quả đối với toàn bộ đời sống đất nước là luật pháp bị chà đạp, nhiều giá trị đạo đức – xã hội bị băng hoại nghiêm trọng, có biết bao nhiêu quyết sách đúng thất bại, năng lượng phát triển của đất nước bị tiêu phí, hủy hoại.  

Hệ quả chung cuộc là để bù lại những yếu kém đang ngày càng đe dọa mình, ĐCSVN buộc phải tiếp tục “siết” hơn trong việc cầm quyền và đồng thời phải tiếp tục cho dối trá lộng hành để bảo toàn địa vị nắm quyền của đảng. Tình hình nguy hiểm đến mức độ ĐCSVN bây giờ có định làm việc gì tốt cũng khó thành công, định nói đúng nói thật điều gì dân cũng khó tin, không tin.  

Nhưng cho dù tăng “siết” và dối trá như thế, quyền lực của đảng vẫn cứ tiếp tục suy yếu. Dẫn tới đảng và dân ngày càng xa cách nhau hoặc đối nghịch nhau. Thậm chí ngay trong nội bộ đảng với nhau, chữ tín thường phải nhường bước trước sức mạnh của dối trá và quyền lực… Chính cái vòng luẩn quẩn này đang làm mục ruỗng sức sống của ĐCSVN, khiến cho tha hóa trong đảng ngày càng ngự trị, với hệ quả cực kỳ nguy hiểm: đảng không giữ được chữ tín đối với dân, còn chữ tín trong dân dành cho đảng bị đánh cắp. Thực tế này đang làm sâu sắc thêm tình trạng đảng và dân phải đối phó lẫn nhau, và cứ thế ngày đêm gây thêm tai ương mới cho đất nước. 

Đã đến lúc phải thừa nhận: Vì thiếu vắng chữ tín trong đời sống đất nước, chưa bao giờ ý chí của người dân và của người đảng viên ĐCSVN bị làm nhụt như hiện nay, lòng dân phân tán. Thử hỏi, đất nước như thế này làm sao đi lên được?
         
Hai là:

Đất nước phải bước vào một cuộc chạy đua quyết liệt với nhiều thách thức mới ập đến từ mọi phía. Nhất là trong bối cảnh khu vực của chúng ta đang nóng lên những biến động bất thường – nóng bỏng nhất là cái “đường lưỡi bò”. Thế giới đang diễn ra một cuộc sắp xếp lực lượng mới…

Ngay trước mắt, chuyển đất nước ta đi vào một thời kỳ phát triển mới như thế nào, hiện nay chưa có lời giải, chưa được chuẩn bị về rất nhiều mặt. Trong khi đó giai đoạn phát triển đầu tiên của đất nước đã kết thúc, đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề mới và khó, thậm chí cực khó. Lực lượng nắm quyền lãnh đạo đất nước biết, hoặc không biết thấu, không biết đủ, hoặc không có khả năng biết đúng nhiều vấn đề đang đặt ra cho đất nước. Quan trọng hơn thế là lãnh đạo đang giấu dân, hoặc không để dân biết toàn bộ hiện trạng của đất nước, giấu dân cả về những thách thức mới cũng như tình trạng bất cập của đảng và của chế độ chính trị. Thất bại và việc dùng đội ngũ dư luận viên che giấu sự thật chỉ càng tăng thêm hủy hoại lòng tin của nhân dân đối với đảng. Chữ tín của đảng đối với dân đã thiếu vắng lại càng thiếu vắng. 

Có thể lẩy ra một vài điểm để bàn thảo. 

Chỉ tính từ khi đổi mới, gần ba thập kỷ đã qua, nhưng đất nước còn đứng rất xa cái mốc trở thành một nước công nghiệp hóa, mặc dù mục tiêu này đã nhiều lần được các đại hội đảng điều chỉnh thấp đi (vận dụng cách nói co dãn) và kéo dài thời gian. Nghị quyết hiện hành nói năm 2020 cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng mục tiêu này có đạt được không? Nhất là chưa ai nói được đó sẽ là một Việt Nam công nghiệp như thế nào trong thị trường của thế giới toàn cầu hóa hôm nay?..  

Tính theo sức mua (PPP), GDP p.c. năm 2013 của ta bằng khoảng 1/3 của Thái Lan (3500 USD/10.000 USD). Giới chuyên môn đánh giá, cứ giữ cung cách làm ăn và chế độ quản lý đất nước như hiện nay, Việt Nam cần vài ba thập kỷ nữa mới đuổi kịp trình độ phát triển của Thái Lan bây giờ (hiện được coi là nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nghĩa là chưa phải là một nước công nghiệp). 

Không ít nhà kinh tế trong nước và trên thế giới lo lắng Việt Nam làm sao thoát được cái bẫy thu nhập trung bình thấp, bởi vì khủng hoảng kinh tế trầm trong hiện nay tuy đang có triển vọng có thể thoát đáy, song nếu giỏi cũng phải vài ba năm nữa kinh tế Việt Nam mới phục hồi – bởi vì những u bướu không ít phần ác tính của nợ nần, của những ách tắc mang tính cơ cấu trong kinh tế, của vỡ bong bóng thị trường bất động sản, của thất thoát trong các tập đoàn kinh tế quốc doanh, của rối rắm trong hệ điều hành… nan giải lắm. Sau đó có tìm được đường đi lên hay không – đó sẽ là một câu chuyện khác và còn để ngỏ. Bởi vì đến giờ này vẫn chưa có chiến lược và mục tiêu sản phẩm, chưa có quy hoạch bài binh bố trận, chưa biết lấy đâu ra nguồn lực triển khai kết cấu hạ tầng cho giai đoạn phát triển mới… Lại càng không thể có một nước công nghiệp hóa trong một thể chế chính trị có bản chất không đáp ứng được sự vận động của nó… Nghĩa là, ngay từ bây giờ đã thấy không thể hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa vào năm 2020. Mà để chậm như thế một ngày, uy hiếp mọi mặt đối với đất nước sẽ lớn thêm một ngày. Song cho đến nay đảng tuyệt nhiên chưa có một lời cảnh báo nào về tình hình này để cả nước định liệu.

Thật đáng lo là hiện nay Việt Nam chưa chuẩn bị được bao nhiêu cho thời kỳ phát triển mới. Khái niệm chung chung “cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” không vạch ra được điều gì cụ thể về tư duy chiến lược. Trong khi đó mọi nguồn lực  - kể từ kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực có chất lượng, tiềm năng khoa học kỹ thuật và công nghệ, sự tích lũy của nội địa, chất lượng của thị trường, năng lực quản lý của nhà nước, khả năng thực thi của luật pháp, vân vân… - để đưa Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới đều vô cùng hạn hẹp, thậm chí thiếu nhiều thứ. Cho đến giờ phút này Việt Nam vẫn chưa có một chiến lược dưới dạng một chương trình hành động có tính ràng buộc pháp lý (cam kết bằng luật pháp của quốc hội, của nhà nước, được cụ thể hóa bằng quy hoạch, kế hoạch…) cho mục tiêu, cho con đường, cho lộ trình các bước đi của một thời kỳ phát triển mới. Hiển nhiên trí tuệ, tầm nhìn của ý thức hệ cũng như tư tưởng nhiệm kỳ không cho phép đảng làm việc này.  

Xin lưu ý, cùng một xuất phát điểm gần giống nhau, Hàn Quốc đã hoàn thành công nghiệp hóa trong khoảng 3 thập kỷ (1960 – 1990), với một nguồn lực trong nước và thu hút được từ bên ngoài chỉ bằng ½ khối lượng Việt Nam có được từ đổi mới đến nay (1986 - 2014)! Trong khi đó, đến hôm nay Việt Nam vẫn chưa giải quyết xong vấn đề nông nghiệp của một quốc gia công nghiệp hóa, để vừa có một nền nông nghiệp hiện đại theo đúng đòi hỏi của một nước công nghiệp, vừa có một tỷ trọng là khoảng ¼ hay 1/5 lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp (tỷ trọng này của Hàn Quốc 1990 khoảng 12%, hiện nay khoảng 6%). Trớ trêu hơn nữa, hiện nay đang cùng một lúc xảy ra hiện tượng nông dân ta không đủ ruộng làm, nhưng diện tích nông dân trong cả nước bỏ ruộng hoang lên đến nhiều vạn hecta – chỉ vì làm nông nghiệp như hiện nay không sống được (bỏ ruộng vì biến đổi của môi trường tự nhiên không tính). Luật pháp và các chính sách hiện hành hầu như bất lực trước thực trạng này, cũng không thể hỗ trợ quá trình tích tụ ruộng đất để đi lên sản xuất lớn và hiện đại. Nông dân nhiều nơi đành tự lo, tự phá rào, luật pháp chứa chấp thêm những bất thiêng mới, kinh tế xuất hiện những rủi ro mới... 

Cho đến hôm nay và trong vòng một, hai thập kỷ tới, chưa làm sao xác định được công nghiệp Việt Nam sẽ nằm trong chuỗi cung / ứng nào, chiếm lĩnh sản phẩm nào, thị phần nào trong nền kinh tế toàn cầu hóa… Chẳng lẽ vẫn cứ dệt may là chủ lực? Rồi đây sẽ vươn lên đến xuất khẩu hộ thép và sản phẩm lọc dầu được nước ngoài đưa vào sản xuất trên đất nước ta? – nghĩa là tiếp thu một nền công nghiệp bẩn, biến đất nước ta thành đất nước cho thuê đất đai và môi trường, dân ta trở thành người đi làm thuê bằng lao động cơ bắp là chủ yếu!.. Chưa nói đến, hiện nay nếu không giải quyết thành công hàng năm đưa hàng chục vạn người đi lao đng ở nước ngoài thì không thể giải quyết được vấn đề thất nghiệp và vấn đề xóa đói giảm nghèo. Rồi hàng vạn phụ nữ Việt Nam phải đi lấy chồng nước ngoài chỉ vì lý do kinh tế!.. Vân vân và vân vân.

Nước ta có tứ trụ của hệ thống chính trị là tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch quốc hội. Một điểm nổi bật là tất cả những vị lãnh đạo này khi đăng đàn tại các địa phương, các bộ, ngành.., đều chỉ thị và chỉ đạo công việc rất sát sao: nêu câu hỏi cho kinh tế phải nuôi con gì, trồng cây gì, đặt vấn đề phải phát triển sản phẩm gì, phải phấn đấu xây dựng nông thôn mới ra sao, phải thi đua học tập tấm gương và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải xây dựng đảng vững mạnh, phải phát huy quyền làm chủ của dân… Không thể không đặt ra nhiều câu hỏi: Nếu chỉ thị và chỉ đạo giống nhau như vậy có phải là nhiệm vụ giống nhau của cả tứ trụ không? Nếu làm một việc giống nhau như thế liệu có cần cả 4 người không? Làm việc như thế, nhiệm vụ được phân công riêng cho từng vị sẽ như thế nào? V… v... Chỉ một ví dụ nhỏ này đủ phản ảnh sự rối rắm, chồng chéo và chồng lấn lên nhau với nhiều hệ lụy rất tệ hại của hệ thống chính trị quốc gia: đảng, nhà nước (?), quốc hội và chính phủ. Hàng ngày đất nước có muôn vàn ví dụ rối rắm chồng chéo nhau như thế. Mọi đề nghị cải cách thể chế chính trị - nhất là vào dịp sửa đổi hiến pháp - để khắc phục sự rối rắm này đều bị bác bỏ - với giải thích: Đấy là cách thực hiện sự thống nhất quyền lực của hệ thống chính trị và của nhà nước dưới sư lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của ĐCSVN. Vân vân… 

Ba là: 

Vốn quý nhất của nước ta là con người và vị trí địa kinh tế - địa chiến lược của Việt Nam. Nhiều nước mơ có được lợi thế này. Nhưng nền giáo dục và thể chế chính trị hiện hành là những nguyên nhân hàng đầu cản trở phát huy lợi thế chiến lược này, thậm chí còn gây ra nhiều hậu quả lớn cho đất nước.  

Song nguyên nhân cơ bản nhất hủy hoại lợi thế nói trên và dẫn đến sự yếu kém mọi mặt của đất nước hôm nay là sau khi hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất đất nước, ĐCSVN với tính cách là lực lượng lãnh đạo duy nhất, đã không đặt ra cho mình nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là xây dựng bằng được quyền làm chủ đất nước của nhân dân trong một thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ, không giúp cho nhân dân tự trau dồi và trang bị cho chính mình quyền năng thực thi quyền làm chủ đất nước của mình. Khỏi phải bàn, cổ nhân đã nói: Dân là chủ nhân mạnh, thì sẽ “thuê” được sự lãnh đạo mạnh của đảng và sự quản lý giỏi của nhà nước; và như thế đảng sẽ mạnh, nhà cũng nước cũng sẽ mạnh, đất nước sẽ hùng mạnh. Cổ nhân cũng nói tiếp: để dân là chủ không ra chủ, để tớ không ra công bộc của dân, thì đất nước lụn bại. Những điều hiển nhiên này đâu có gì xa lạ?!

Song rõ ràng ĐCSVN kể từ 30-04-1975 cho đến hôm nay vẫn không coi thực hiện nhiệm vụ này là tiền đề đầu tiên mang tính quyết định tất cả và mãi mãi cho toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của một nước Việt Nam độc lập thống nhất. 

Không thể đổ lỗi cho nhân dân ta lạc hậu, cho hoàn cảnh quốc tế khắc nghiệt… để thanh minh, để biện hộ…

Đúng ra phải nói: Chính vì xuất phát điểm của nước ta lạc hậu, chính vì bối cảnh quốc tế rất khắc nghiệt, nên sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc kể từ khi giành được độc lập thống nhất nhất thiết phải bắt đầu từ thực hiện bằng được nhiệm vụ chiến lược nêu trên. Bởi vì chỉ một đất nước do nhân dân thực sự làm chủ như thế mới có thể sẽ có tất cả, mới có thể thắng được tất cả mọi thách thức bất kể từ đâu tới. Lãnh đạo là thực hiện sứ mệnh tạo ra cho dân và cho đất nước một sức sống như thế của quốc gia, chứ không phải là ngồi lên dân.

Nhưng từ sau 30-04-1975 cho đến hôm nay ĐCSVN đã và đang có sự lựa chọn khác – mặc dù đảng ghi trên lá cờ của mình: Tất cả vì đất nước, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. 

Nhìn lại, cũng phải nói: Gần 4 thập kỷ đã tiêu phí, và nguồn lực mọi mặt có thể huy động được của đất nước, của truyền thống kiên cường sáng tạo Việt Nam, của trí tuệ văn minh thế giới ngày nay, của bối cảnh toàn cầu hóa… thực ra đã hoàn toàn cho phép ĐCSVN đủ sức hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ sống còn bậc nhất này, nếu đảng coi đấy là sự lựa chọn của mình.  

Nhưng, như đã nói, ĐCSVN đã không lựa chọn như vậy, do đó đã dẫn đến thực trạng đất nước hôm nay. Chính đây là sự thất hứa nghiêm trọng nhất đối với những gì đảng đã cam kết với dân tộc, với đất nước

Sự thất hứa nêu trên đồng thời cũng là thất bại nghiêm trọng nhất của đảng trong toàn bộ lịch sử đấu tranh của mình kể từ khi thành lập, là thắng lợi đáng khiếp sợ nhất của tha hóa trong đảng. Sự thất hứa này còn là nhân tố hàng đầu đang hủy hoại phẩm chất và truyền thống cách mạng của đảng. Sự tha hóa này tạo ra ngay trong đảng kẻ thù không đội trời chung đang nhăm nhăm biến chất và tiêu hủy đảng. 

Bốn là: Phải bắt đầu lại từ chữ tín

Trí tuệ của văn minh nhân loại và bối cảnh thế giới toàn cầu hóa ngày nay trong thời đại tin học hoàn toàn cho phép sự khởi nghiệp của các quốc gia đi sau như nước ta thành công. 

Bí quyết thành công của quốc gia khởi nghiệp đã được trí tuệ của nhân loại đúc kết, đó là thực hiện nghiêm túc các tiêu chí:  (a)quyền sở hữu tư nhân, (b) quyền tự do cá nhân trong khuôn khổ một thể chế chính trị dân chủ, (c) trí tuệ giữ vai trò ưu tiên để trở thành động lực của phát triển. Bí quyết thành công của quốc gia khởi nghiệp còn nằm trong quá trình hoàn thiện và phát triển không ngừng kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự… … Trong thế giới hôm nay, những bí quyết này chẳng còn gì là bí mật, là hoang tưởng, chẳng có gì phải mò mẫm, phải đoán già đoán non như thời đại Nguyễn Trường Tộ, mà đang là hiện thực ngoạn mục của hàng chục nước đi sau ở mọi châu lục. Cũng thực tiễn đáng học hỏi này của các nước đi sau đang khẳng định một thực tế như một nguyên lý: Những bí quyết nêu trên chỉ có thể vận dụng thành công trong một quốc gia lựa chọn con đường phát triển hòa bình của cải cách thường xuyên và triệt để, bắt đầu từ giáo dục… 

Nhưng ĐCSVN đã để mọi việc phải làm trễ mất gần 4 thập kỷ rồi, sự tha hóa đã chiếm được thế thượng phong trong đảng rồi, làm thế nào bây giờ? 

Trả lời:  Vẫn còn kịp, nếu ĐCSVN bắt đầu lại từ chữ tín. 

Trên đời này không thiếu gì một con người thất bại hay một quốc gia đổ vỡ đã lập lại cuộc đời hay khởi nghiệp lại bằng cách bắt đầu từ chữ tín. Cũng không thiếu gì kinh nghiệm sống ở khắp thế gian này: Giữ được chữ tín sẽ làm nên tất cả. 

Còn quan trọng hơn thế, nhân dân ta đủ kinh nghiệm xương máu đã trải qua, đủ hiểu biết những gì đang phải chịu đựng trong chế độ chính trị hiện tại, đồng thời cũng đủ nghị lực, bản lĩnh và sự bao dung để lựa chọn con đường cải cách hòa bình và hòa giải, không mong muốn gì hơn con đường cải cách trong hòa bình, trong hòa giải.  

Tối ưu nhất đối với đất nước trong tình hình hiện nay chính là ĐCSVN – với tính cách là lực lượng chính trị mạnh áp đảo – tự đứng lên cởi trói cho bản thân mình, và đồng thời vận động toàn dân khai phá con đường cải cách này. Có đủ căn cứ để nói: Cho đến giờ phút này, nhân dân vẫn sẽ hoan nghênh, vẫn sẽ chấp nhận sự lựa chọn này của đảng. Vâng, cho đến giờ phút này. Bởi vì đấy là con đường ngăn chặn tái diễn thảm cảnh nồi da xáo thịt, là con đường sống của cả đất nước, cả dân tộc. Có thể dám chắc nhiều đảng viên chân chính có hiểu biết thấy rõ được thực trạng của đảng và của đất nước, tán thành con đường cải cách. Nhiều người trong số họ đã công khai có những ý kiến tâm huyết và trí tuệ về giải pháp, về cách tiếp cận con đường cải cách.  

Có thể khẳng định trong nhân dân và trong đảng có đủ trí tuệ và năng lực cho một cuộc cải cách vĩ đại rất xứng đáng với tầm vóc của đất nước. Chất xám của thế giới có thể huy động được cho sự nghiệp cải cách vĩ đại này không thiếu. Cả thế giới tiến bộ chắc chắn hậu thuẫn nỗ lực này của đất nước ta.

Để có được con đường cải cách như thế, ĐCSVN hãy bắt đầu từ thực hiện chữ tín với nhau trong đảng, và đồng thời thực hiện chữ tín của đảng đối với dân. 

Việc đảng thực hiện chữ tín của mình đối với dân hãy bắt đầu từ việc đảng thực hiện nói thật, nói đi đôi với làm, từ việc đảng để cho dân nói và chịu nghe dân nói, đồng thời thực hiện công khai minh bạch để tất cả cùng nhau xác nhận chữ tín.

Bắt đầu các khâu chuẩn bị từ hôm nay, có còn cách nào tốt hơn để xúc tiến đại hội XII không?  

Nếu ĐCSVN không tìm cách bắt đầu lại từ chữ tín, đại hội XII chắc chắn sẽ không thể đi quá được cái vạch đã định sẵn từ các đại hội trước: Cuối cùng sẽ chỉ thực sự làm được mỗi một việc là quyết định ai ở ai đi trong “ê-kíp” lái tầu mới mà thôi, còn con tầu đảng vẫn lao tiếp trên con đường đang đi, với quy luật muôn đời là: đường nào đích nấy, nhân nào quả ấy. 

Nếu quyết không phản bội lại truyền thống cách mạng của chính mình, không phản bội lại hy sinh của dân tộc, ĐCSVN hoàn toàn có đủ điều kiện bắt đầu lại từ chữ tín./. 

Hà Nội, ngày 12-02-2014
 ..........................................
Tài liệu tham khảo

Nguyễn Trung, “Chữ tín”, bài viết cho tạp chí Văn hóa Phật giáo – TPHCM, số mùa Thu năm 2012: nguyentrung-vt.blogspot.com – nhãn AAA nhật ký.


[1] Trên thực tế từ sau 30-04-1975 (trước đó không tính), thiết nghĩ nước ta cũng không thoát khỏi hiện tượng phổ cập nhiều nơi trong lịch sử thế giới là “cách mạng thường ăn thịt những đứa con của mình”.