Nhãn

Ngày 22 tháng 04 năm 2016

864. AI BẢO KÊ ÔNG TRẦM BÊ

Huy Đức - huyduc's facebook

Quốc hội sẽ để Thống đốc Nguyễn Văn Bình yên với cam kết ngân sách không ảnh hưởng khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua 3 ngân hàng với giá 0 đồng? Quốc hội cũng để ông Bình liều mình “cứu chúa” bằng cách để NHNN đứng ra “nhận ủy quyền” phần vốn âm nhiều chục nghìn tỷ đồng của gia đình ông Trầm Bê sau khi sáp nhập ngân hàng Phương Nam (Southern Bank) vào Sacombank?
Southern Bank là một ngân hàng vi phạm gần như tất cả các quy định mang tính nguyên tắc mà Luật ràng buộc đối với một tổ chức tín dụng.
Hai cổ đông lớn nhất đều sở hữu cổ phần vượt 5% vốn điều lệ (ông Trầm Bê sở hữu 8,36%; con gái, Trầm Thuyết Kiều, sở hữu 7,36%). Nhóm cổ đông trong gia đình ông Trầm Bê và người có liên quan sở hữu tới 26,26% vốn điều lệ trong khi Luật cho phép tối đa chỉ 20%.
Đặc biệt, 71,28% tổng dư nợ được tập trung cho các nhóm khách hàng với mức cho vay mỗi nhóm vượt nhiều lần quy định so với vốn tự có của Southern Bank.
Cũng như Nguyễn Văn Mười Hai sử dụng “Nước Hoa Thanh Hương”, ông Trầm Bê đã sử dụng Southern Bank như một công cụ huy động vốn. Thường, những khoản “vốn” này được dùng để kinh doanh địa ốc.
“Khách hàng” Thạch Thị Thúy An – nhân viên tín dụng của Southern Bank – được vay 280 tỷ VND mà không cần tài sản thế chấp gì để một thời gian sau thì đưa về 25 “sổ đỏ”. “Khách hàng” Thạch Thị Qui – nhân viên phòng đầu tư – vay 280 tỷ cũng không thế chấp gì và khi bổ sung tài sản đảm bảo thì lại là 28 “sổ đỏ”.
Việc rút hàng trăm tỷ đồng rồi sau đó mang “sổ đỏ” về còn được lặp lại với hàng loạt “khách hàng”: Phạm Thị Ngọc Điệp, 280 tỷ VND; Lưu Thị Lợi, 280 tỷ VND; Châu Khương, 457 tỷ VND; Diệp Thị Linh, 384 tỷ VND; Ngô Thị Bích Duyên, 380 tỷ VND; Trương Cẩm Linh, 390 tỷ VND…
Hàng chục công ty “khách hàng” của Phương Nam được lập ra để “vay” hàng trăm, hàng nghìn tỷ từ Phương Nam mà các cổ đông có khi là con dâu, con rể ông Trầm Bê hoặc “cháu ông Trầm Bê”, “cháu vợ ông Trầm Bê và có khi chỉ là một “nhân viên tập sự” của chính ngân hàng này (Ngày 2-2-2012 bà Trương Cẩm Linh được “nhận thử việc” tại Công ty quản lý nợ của Phương Nam; Ngày 10-2-2012, bà Linh được “cho vay” 390 tỷ).
Nếu không phải là con cháu trong nhà thì “khách hàng” của Phương Nam cũng là những
người nằm trong “nhóm lợi ích” như Bầu Kiên; như nhóm của “Bầu” Thắng Đồng Tâm (có số dư nợ tới 6-2012 là 4.440 tỷ VND); như nhóm công ty của Trần Minh Chí – em vợ Thủ tướng đương nhiệm (có số dư nợ tới 6-2012 là 1.245 tỷ VND)…
Rất nhiều “hợp đồng tín dụng” chỉ như để rút tiền ra khỏi ngân hàng. Hàng trăm tỷ được rút ngay một lần và không ai biết rõ những số tiền khổng lồ đó được đưa đi đâu vì con số thực chi cho các “dự án” so với quy mô thế chấp vay tiền là vô cùng nhỏ.
“Khu dân cư Trần Thái” – của ông Trần Minh Chí, em vợ Thủ tướng – được định giá 603 tỷ VND, đã vay và dư nợ tới 6-2012 là 249 tỷ VND, nhưng cùng thời, các chi phí tư vấn, giám sát, đền bù cho người dân và các chi phí quản lý công trình cho công trình này mới được ghi nhận là 12,58 tỷ đồng. Tương tự, 110.158 m2 đất tại xã Phong Phú huyện Bình Chánh được định giá 551 tỷ đồng, trong khi trên thực tế Phong Phú chỉ mới chi đền bù 24 tỷ đồng chứ chưa làm gì cả.
Làm thế nào để năm 2012, khi Phương Nam đã lỗ lũy kế 15.756 tỷ VND, ông Trầm Bê lại còn có thể thu gom cổ phiếu của Sacombank.
Không phải ngẫu nhiên khi rất nhiều khoản “vay” của các “khách hàng” có liên quan tới ông Trầm Bê cho những dự án mà chúng ta thấy là chi tiêu rất nhỏ so với các khoản tiền đã giải ngân. Những lần “tăng vốn” cho chính Southern Bank, lần theo các khoản vay và góp vốn, thấy rất rõ sự liên quan giữa việc gia đình ông Trầm Bê đã “rút” tiền gửi của khách hàng với việc “góp vốn” vào ngân hàng.
Trong lần tăng vốn đợt 2, từ 3,2 nghìn lên 4 nghìn tỷ, (tháng 6-2012), gia đình Trầm Bê “góp” 289,4 tỷ VND. Trong các khoản vay cùng thời điểm, ta thấy: Ngày 4-6-2012, “khách hàng” Nguyễn Thị Hồng, con dâu ông Trầm Bê, vay 140 tỷ, “khách hàng” Nguyễn Thị Thu Hà vay 150 tỷ từ Southern Bank
Cùng ngày 4-6-2012, Southern Bank “giải ngân” 280 tỷ, ngày hôm sau “giải ngân” tiếp 10 tỷ, tất cả đều được chuyển vào tài khoản của “Công ty Thành Long”, nơi con rể Trầm Bê là Lê Trọng Trí làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 4-6-2012, Lê Trọng Trí rút hết 280 tỷ đồng ra khỏi tài khoản Thành Long.
Ngay trong ngày 4-6-2012, người ta thấy “22 cổ đông” nhà Trầm Bê mua cổ phần với số tiền 280 tỷ 243 triệu. Ngày 5-5-2012, Lê Trọng Trí rút 9 tỷ đồng; cùng ngày, con trai ông Trầm Bê – Trầm Trọng Ngân – mua cổ phần với số tiền 9 tỷ 217 triệu.
Những sai phạm này có thể chưa cần phải “hình sự hóa” nếu nó không gây hậu quả to lớn như những gì ông Trầm Bê gây ra ở Southern Bank.
Tính tới 30-6-2012, dư nợ cho vay của Phương Nam là 51.300 tỷ VND; vốn chủ sở hữu đã thực âm 11.653 tỷ VND trong khi những khoản vay lên đến hàng chục nghìn tỷ khác của Phương Nam lại ở trong tình trạng “một đi không trở lại”. Chỉ tính trong số 42.829 tỷ VND dư nợ được thanh tra, đã có 9.531 tỷ VND có khả năng mất vốn; 8.529 tỷ VND khó có khả năng thu hồi khi xử lý tài sản.
Ông Trầm Bê, với tư cách Chủ tịch hội đồng tín dụng đã cho vay tới 6.343 tỷ đồng không có tài sản đảm bảo và đứng trước nguy cơ mất vốn; 3.236 tỷ VND khác được cho vay với tài sản đảm bảo không đủ điều kiện thế chấp, được đánh giá là có khả năng mất vốn; 8.521 tỷ khác cho vay với tài sản chưa hoàn tất thủ tục pháp lý, khó có khả năng thu hồi nợ.
Phải chăng sau Vinashin, thất thoát hàng nghìn tỷ đồng vẫn có thể được Quốc hội và NHNN coi là “chuyện nhỏ”.
Ở thời điểm đầu năm 2012, Southern Bank đã hội đủ bệnh tật để bị kiểm soát đặc biệt. Ai đã đưa ra kịch bản thâu tóm Sacombank hòng “đánh bùn sang ao”. Vì sao NHNN đã im lặng để “nhái ốm” Southern Bank “nuốt” xong “con rắn hổ mang” Sacombank rồi mới “nhận ủy quyền” món nợ từ ông Trầm Bê đã trở nên chồng chất.
Theo tính toán của Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, chi phí minh bạch mua một cổ phiếu Sacombank của ông Trầm Bê lên đến hơn 30 nghìn VND/ cổ phiếu trong khi ông chỉ có thể thu lợi khoảng 25 nghìn VND/ cổ phiếu (gộp cả cổ tức tính từ khi mua). Sáp nhập vào Sacombank rõ ràng là một cuộc đào thoát chứ không phải là một thương vụ.
Vào thời điểm Trầm Bê thâu tóm cổ phiếu Sacombank, đầu năm 2012, Southern Bank đang lỗ 15.756 tỷ VND, nợ xấu đang ở mức 45,6%. Vào thời điểm Trầm Bê và các thân hữu của ông “thôn tính” Sacombank, nợ xấu của Southern Bank lên tới 55,31%. Con số tuyệt đối thì mới kinh hoàng.
Quốc hội nên dành cho Thống đốc Nguyễn Văn Bình một ngày trên hội trường, để các đại biểu và, đặc biệt, các thành viên Ủy ban Tài chánh & Ngân sách chất vấn ông Nguyễn Văn Bình.
Chỉ cần bạch hóa hồ sơ về những gì ông Trầm Bê đã làm ở Southern Bank, các vị sẽ biết rõ cái gọi là tái cấu trúc ngân hàng, xử lý nợ xấu là gì. Chỉ cần xem xét vài hồ sơ “đảo nợ” ở Southern Bank, các vị sẽ rõ các món nợ đã được “làm đẹp sổ sách” như thế nào, sẽ hiểu vì sao GDP vẫn tăng mà nền kinh tế thì càng èo uột, ngân sách thì trống không mà quan chức và các con nợ thì vẫn chi xài như đại gia.
Nếu không dùng ngân sách thì ông Bình sẽ dùng phép thần thông nào để chi trả nhiều chục nghìn tỷ đồng thâm thủng ở Southern Bank và các ngân hàng “0 đồng” khác.
Cách “tái cấu trúc” ngân hàng của Thống đốc Nguyễn Văn Bình có thể sẽ nuôi được các con bệnh ngân hàng qua mùa Đại hội nhưng khi những món nợ nhiều chục nghìn tỷ đồng của ông Trầm Bê và của các “ngân hàng 0 đồng” liên tục đáo hạn ông Bình sẽ chi trả cho dân bằng gì.

Các sai phạm của ông Trầm Bê thì khác gì với ông Thắm Đại Dương, với ông Danh ngân hàng Xây Dựng. Từ 2012 tới nay, ai đang bảo kê cho ông Trầm Bê.

Ngày 26 tháng 02 năm 2016

864. ĐÃ BA NĂM RỒI, VẪN CÒN ĐÓ, MỘT LỜI ĐE DỌA!

Nguyễn Đăng Quang

Cách đây tròn 3 năm, ngày 25/2/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến làm việc với Thường vụ Tỉnh uỷ và Lãnh đạo chủ chốt tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, ông đưa ra lời đe dọa 72 nhân sỹ trí thức ký tên vào “Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp 1992” cùng những người dân tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể đòi quyền lợi hợp pháp của mình là những kẻ “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”  và rồi đe dọa “phải xử lý” những người này!

Tối hôm đó, VTV phát trên Kênh 1 nội dung ý kiến phát biểu của ông Trọng ở Vĩnh Phúc. Ngay sáng hôm sau, nhà báo trẻ Nguyễn Đắc Kiên của báo Gia đình & Xã hội, trong bài viết đầy dũng khí “Vài lời với ông Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng”(1) đã phê phán ý kiến phát biểu và chỉ trích thái độ sai trái của TBT Trọng ở tỉnh Vĩnh Phúc! Chưa đầy 24 tiếng đồng hồ sau, nhà báo trẻ dũng cảm Nguyễn Đắc Kiên bị toà báo Gia đình & Xã hội cho thôi việc!

Bình luận về ý kiến nói trên của ông Nguyễn Phú Trọng, giáo sư Hoàng Xuân Phú ở Viện Toán học - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, trong bài viết “Là thực thi quyền hiến định đấy, ông Trọng ạ!”(2), đã phân tích và chỉ rõ lời phát biểu của ông Trọng ở Vĩnh Phúc là sai trái! Dẫn lại lời của ông Tổng Bí thư:“Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì.ì?””, Giáo sư Hoàng Xuân Phú phân tích cho ông Trọng thấy và hiểu được “biểu tình” tự nó là quyền hiến định của công dân, được ghi rõ tại Điều 69 Hiến pháp 1992:“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.” Cho đến nay, Nhà nước ta vẫn chưa có Luật Biểu tình, nên mệnh đề “theo quy định của pháp luật” không có tác dụng hạn chế quyền biểu tình. Nghĩa là, theo Hiến pháp 1992, thì công dân luôn luôn có quyền biểu tình ôn hòa, và quyền ấy không bị hạn chế bởi pháp luật. Giáo sư Hoàng Xuân Phú so sánh: Việc công dân đi biểu tình khi chưa có luật về biểu tìnhcòn chính đáng và hợp pháp hơn so với việc ĐCSVN hoạt động khi chưa có luật quy định về khuôn khổ hoạt động của ĐCSVN, vì như mọi người đều rõ, các cơ quan Đảng và Nhà nước “ chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn người dân được làm những gì pháp luật không cấm.”  Giáo sư Hoàng Xuân Phú kết luận: Ông Trọng không thể tìm được cơ sở pháp lý nào để có thể phủ định quyền biểu tình của công dân!

Còn việc khiếu kiện thì sao? Khiếu kiện là quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Giáo sư Hoàng Xuân Phú chỉ rõ: Khiếu kiện cũng là quyền hiến định của công dân. Quyền này được ghi rõ trong Điều 74 Hiến pháp 1992:“Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.”  Hiến pháp 1992 cũng như các bộ luật hiện hành không có điều khoản nào cấm “khiếu kiện đông người” hoặc “ký đơn tập thể”. Do vậy, mọi Nghị định hoặc Thông tư của Chính phủ (tức các văn bản dưới luật) nếu có điều nào quy định “cấm khiếu nại đông người” hoặc “cấm ký tên tập thể” sẽ đều không có giá trị pháp lý, vì những văn bản này chính nó đã vi phạm luật pháp và Hiến pháp!

Giáo sư Hoàng Xuân Phú kết luận:“Biểu tình và khiếu kiện, dù với tư cách cá nhân hay tham gia ký đơn tập thể, thì cũng đều là thực thi quyền hiến định trong khuôn khổ pháp luật hiện hành. Nhân dân có quyền sử dụng các quyền hiến định đó, kể cả trong trường hợp ông hay ai đó cho rằng Hiến pháp chỉ là để trang trí! Vì vậy, ông không thể “quy kết” việc họ “tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể” là “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, rồi yêu cầu “các đồng chí quan tâm xử lý” được!”.

Như vậy là đã rõ, cả về đạo lý và pháp lý, ông Trọng đều không đúng!

Hưởng ứng lời kêu gọi của Quốc Hội toàn dân tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp, ngày 19/1/2013, ngay đợt 1 đã có 72 người ký tên vào bản “Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp 1992”(3), gọi tắt là KN72, mà sau này lên đến trên 15.000 người ký tên. Mọi người đều sững sờ và bức xúc trước sự quy chụp của TBT Trọng. Nhà giáo Dương Đình Giao, một cây bút phản biện sắc sảo, trong bài “Người đồng tuế”(4) đăng trên Blog ÔNG GIÁO LÀNG của mình, phải thốt lên:“Ai đời, kêu gọi người ta góp ý, còn nói sẵn sàng chấp nhận những ý kiến trái chiều, thế mà đến khi người ta phát biểu lại qui đó là suy thoái về tư tưởng, đạo đức!”  Tác giả Dương Đình Giao đã nói lên suy nghĩ của rất nhiều người!

Bản thân tôi lúc đầu cũng không tin ý kiến của ông Trọng phát biểu ở Vĩnh Phúc là thực, sợ rằng bộ máy tuyên truyền nói vống lên, vì một người lãnh đạo cao cấp sẽ không bao giờ nói như vậy, nên đầu tháng 3/2013 đã cùng một số anh chị em ký KN72 gửi thư cho ông Trọng đề nghị ông sắp xếp một buổi gặp chúng tôi với tư cách là Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri, để 2 bên hiểu rõ quan điểm và tránh hiểu lầm nhau (5). Hai lần gửi thư đi, chúng tôi đợi mãi, nhưng không hề nhận được hồi đáp, nên đầu tháng 5/2013 chúng tôi buộc phải gửi đơn đến Ban Công tác ĐBQH thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét tư cách Đại biểu Quốc hội đối với đại biểu Nguyễn Phú Trọng!(6) Không nhận được hồi âm, đầu tháng 10/2013, chúng tôi gửi tiếp thư thứ hai, thúc giục Quốc hội giải quyết kiến nghị của cử tri. Sau đó, có thể ông Trọng có chỉ thị nội bộ, nên hạ tuần tháng 10/2013, cơ quan cũ của tôi cử một lãnh đạo đến gặp và thuyết phục tôi “rút yêu cầu xem xét tư cách ĐBQH”, lý do đưa ra là “để không làm mất uy tín lãnh đạo Đảng”!? Tôi không chấp nhận!

Cho đến nay tôi vẫn coi đấy như một món nợ. Và thực sự, tôi không hiểu vì sao ông Trọng lại phản ứng thái quá, coi những người ký KN72 là “suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống để rồi đòi xử lý họ!”  trong khi 2 hiểm họa lớn của đất nước là GIẶC NỘI XÂM và GIẶC NGOẠI XÂM đang hòanh hành ngay trước mặt thì ông lại lặng thinh, bình chân như vại, như chẳng có gì xảy ra cả! Là người chịu trách nhiệm cao nhất, ông Trọng coi nạn tham nhũng – một căn bệnh ung thư đang di căn trong cơ thể Đảng – chỉ: “như ngứa ghẻ, phải gãi, rất khó chịu!”;  còn việc chống bọn quan tham phải thận trọng: “đánh chuột nhưng đừng để vỡ BÌNH!”. Trước nạn tham nhũng được coi là giặc nội xâm, khi nhận chức TBT khoá XI cách đây 5 năm cũng như khoá XII vừa rồi, ông Trọng không hề đưa ra một “đề án chống tham nhũng có lộ trình” cụ thể, và cũng chẳng có một “cam kết” tận diệt tham nhũng nào cả! Do vậy, nạn tham nhũng ngày trở nên trầm trọng! Bọn quan tham không chỉ là những con sâu, con chuột đơn lẻ như trước nữa, nay chúng phát triển lớn mạnh nhiều lần, trở thành những bầy sâu, đàn chuột, thậm chí là các “tập đoàn chuột sâu tham nhũng” rồi! Chính bọn này là thủ phạm giết sống ĐCSVN chứ không phải ai khác, càng không phải là những người ký “Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp 1992” hay những người tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm biển đảo, hoặc những bà con mất đất, mất nhà cùng nhau khiếu kiện và ký đơn tập thể đòi quyền lợi hợp pháp của mình nhưng bị ông quy là“suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống”! Tham nhũng không còn là nguy cơ nữa, đã trở thành giặc nội xâm rồi. Mong ông hãy đủ minh mẫn, chĩa lưỡi lê vào giặc, đừng chĩa lưỡi lê vào đồng bào mình!

Còn đối với bọn GIẶC NGOẠI XÂM, thái độ của ông thế nào? Trong suốt 3 năm qua, ông không một lần lên tiếng, mà im lặng đến đáng sợ! Trong 3 năm này, nhiều tầu thuyền đánh cá của ta bị tầu Trung Quốc đâm hỏng và nhiều ngư dân ta bị giết ngay trên ngư trường truyền thống của mình ở Biển Đông! Ông đâu có lên tiếng bảo vệ đồng bào mình? Tháng 5/2014, giữa lúc Hội nghị Trung ương 9 đang họp, Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của ta. Thế giới phản ứng mạnh, lên án Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam. Nhưng ông biệt tăm vô tín. Tại sao ông không dùng diễn đàn HNTW 9 đang họp để ra tuyên bố phản đối Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo của ta, mà ông giữ im lặng như không hề có gì xảy ra vậy? Rồi suốt trong năm 2015, Trung Quốc ngang nhiên bồi đắp 7 bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam ta thành các đảo nhân tạo để độc chiếm và quân sự hoá chúng. Ông vẫn im lặng. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản TQ Tập Cận Bình nhiều lần ngang ngược tuyên bố 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của tổ tiên chúng từ thời cổ đại! Thế giới phản ứng mạnh. Nhưng không thấy Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam lên tiếng phản bác gì? Sao ông lại im lặng đến lạ lùng như vậy?

Đối sách của ông trước 2 vấn đề lớn: một là với người dân, mặc dù ý kiến họ có thể trái ý ông, không cùng với suy nghĩ của ông, có thể làm ông mếch lòng, song họ là đồng bào của ông;  và hai là với bọn giặc nội xâm và giặc ngoại xâm, mặc dù chúng cùng ý thức hệ với ông nhưng lại là kẻ thù của nhân dân và đất nước Việt Nam, do vậy đòi hỏi ông phải hết sức tỉnh táo, không được lầm lẫn. Phải coi dân là rường cột của quốc gia và đừng để mất dân, ông ạ!

Nghe nói, trong buổi họp báo quốc tế gần đây khi ông được tái cử chức TBT, hình như ông có ca ngợi nền dân chủ ở Việt Nam là không đâu bằng, là “dân chủ đến thế là cùng!”. Câu nói làm tôi trạnh nhớ đến lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân chủ là phải để người dân mở miệng”! Ấy vậy, chúng tôi mới vừa mở miệng, mới chỉ “mở miệng góp ý”, chứ nào dám “mở miệng chỉ trích, đả phá” ai đâu mà sao ông nỡ vội đe dọa chúng tôi như vậy? Xin phép hỏi ông, vậy thì dân chủ của Việt Nam ta ở đâu? Và cái nội hàm “dân chủ đến thế là cùng” của ông là cái gì? Ông có thể cho nhân dân Việt Nam hưởng nó được không? Nếu ông và Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự thay đổi, và thực tâm muốn Việt Nam ta tiến đến một nền “dân chủ đến thế là cùng” như lời ông nói, có lẽ cơ hội thử nghiệm tốt nhất là dịp bầu cử Quốc Hội khoá 14 vào ngày 22/5 tới, thưa ông!

Trở lại lời đe dọa 3 năm về trước, có một sự việc có thể liên quan, đó là việc một cựu sỹ quan công an, một nhà hoạt động dân chủ - nhân quyền nhiệt huyết, một nhà báo sắc sảo, ông Nguyễn Hữu Vinh, người khởi xướng và điều hành trang blog uy tín BA SÀM bị bắt khẩn cấp cùng cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy vào ngày 5/5/2014 và bị khép vào“Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”  theo Điều 258 Bộ luật Hình sự. Đến nay, thiếu 70 ngày là tròn 2 năm, hai bị cáo trên bị giam giữ mà không được đưa ra xét xử như qui định của pháp luật, bởi các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn không chứng minh được hai bị cáo này có tội! Không chứng minh được công dân có tội, nhưng cứ tiếp tục giam giữ họ, không đưa ra xét xử, số lần trả hồ sơ để điều tra lại cũng như thời hạn tạm giam đều đã quá quy định của luật pháp, phải chăng họ cố tìm chứng cứ mới để buộc tội bằng được các bị cáo này? Tôi đề nghị, hãy tuyên bố kết thúc điều tra và trả tự do ngay cho các bị cáo. Nếu sau này tìm ra chứng cứ mới, sẽ lập chuyên án khác để xử lý sau. Còn bây giờ hãy trả tự do ngay cho họ. Đấy mới là thượng sách!
Bà Lê Thị Minh Hà, một cựu sỹ quan an ninh, đảng viên ĐCSVN, vợ của ông Nguyễn Hữu Vinh, trong bài viết “Chồng tôi có phạm tội không?”(7) đã khẳng định chồng bà VÔ TỘI và việc bắt giam ông Vinh là “ tùy tiện, vi hiến và trái pháp luật”. Bài đòi phải“Trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho ông Vinh”, “Huỷ bỏ Điều 258 Bộ luật Hình sự” và “Tôn trọng quyền tự do thông tin và báo chí của người dân Việt nam”. Còn giáo sư Hoàng Xuân Phú trong bài viết “Sai phạm trong tố tụng vụ án “Nguyễn Hữu Vinh cùng đồng bọn…” (8), sau khi phân tích khía cạnh pháp lý của Bản kết luận điều tra của Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an ngày 30/10/2014, đã đi đến 5 kết luận sau đây: Một là Buộc tội vu vơ, hai là Chứng cớ ngu ngơ, ba là Điều tra giả vờ, bốn là Giám định lơ mơ, và năm là Hồ sơ mập mờ! Ngoài ra, cả 6 luật sư bào chữa cho 2 bị cáo đều đã nhiều lần gửi kiến nghị, yêu cầu các cơ quan tư pháp trả tự do tức khắc cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy vì họ đều vô tội, và việc giam giữ họ là vi phạm luật pháp!

Ông Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự bị bắt giam đã gần 2 năm nay. Việc các cơ quan tố tụng không chứng minh được các bị cáo có tội nhưng vẫn cố tình giam giữ họ làm người ta nghĩ đây không phải là vụ án hình sự mà là vụ án chính trị! Việc “xử lý bắt bỏ tù này” có phải là hệ quả của LỜI ĐE DỌA ở Vĩnh Phúc 3 năm trước hay không, tôi không dám khẳng định! Nhưng việc nhà báo trẻ Nguyễn Đắc Kiên bị đuổi việc chỉ sau một ngày lên tiếng chỉ trích TBT Nguyễn Phú Trọng, và nay, nhà báo Nguyễn Hữu Vinh – một trong 72 người ký tên vào KN72 – bị bắt  giam suốt gần 2 năm qua mà chưa đem ra xét xử, làm cho dư luận dễ liên tưởng hai sự việc này có thể nằm trong “phạm vi điều chỉnh”của LỜI ĐE DỌA trên! Nếu  quả đúng như vậy thì cái danh xưng “Nhà nước Pháp quyền” phải được hiểu là gì đây? Còn cái nội hàm “Dân chủ đến thế là cùng!” là cái chi một khi người dân “Không được mở miệng” để phê bình chính phủ và chính đảng cầm quyền, thưa ngài Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng?

Hà Nội, ngày 25/2/2016.
N.Đ.Q.

Tài liệu tham khảo (mời độc giả click để đọc tiếp các bài liên quan)   

Ngày 31 tháng 10 năm 2015

863. EM VỢ THỦ TƯỚNG & "SIÊU LỪA" DƯƠNG THANH CƯỜNG

Giang hồ từ lâu đã đồn, đằng sau Huyền Như là con gái TT NTP ... chả bik fải thế nào thì các đảng viên trung kiên của đảng mở mắt ra B-|
EM VỢ THỦ TƯỚNG & "SIÊU LỪA" DƯƠNG THANH CƯỜNG
Huy Đức
Vợ chồng tướng công an Trần Quốc Liêm - em vợ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - là "mắt xích" quan trọng nhất trong vụ án Dương Thanh Cường (lừa đảo ngân hàng Agribank 966 tỷ đồng). Thế nhưng, khi tường thuật phiên tòa diễn từ 22-10-2015 và kéo dài suốt tuần, các nhà báo (lại) đều làm như không nhìn thấy "cặp voi này trong phòng khách".
Không một lần, cái tên Trần Quốc Liêm và vợ ông, Trần Hoa Mai, xuất hiện trong các bài tường thuật. Vụ án, vốn được xếp trong "tám Đại án tham nhũng", nếu vẫn được tuyên vào thứ Tư, 4-11-2015, sẽ đi qua như một vụ hình sự thường.
Dương Thanh Cường, sinh năm 1965, vào giữa thập niên 1990 đã từng đối diện án tử hình với 5 tội danh trong đó có tội lừa đảo và đưa hối lộ; sau đó được giảm xuống chung thân rồi 20 năm. Cường ở tù tới năm 2005 thì được tha.
Năm 2007, nhờ mối quan hệ này và trên cơ sở 5 ha đất của ông bà Trần Quốc Liêm - Trần Hoa Mai tại xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Cường lập dự án "cao ốc căn hộ và khu biệt thự vườn Thanh Phát". Ngoài việc "chuyển nhượng" đất cho Dương Thanh Cường, bà Trần Hoa Mai còn nhận đứng ra "mua gom đất đai" cho Cường làm dự án.
Theo lời khai ban đầu của Cường, anh ta có nhờ tướng Trần Quốc Liêm "trao đổi với ông Nguyễn Thế Bình, Tổng giám đốc Agribank" để ngân hàng cho Cường vay tiền. Cho dù khi bị tạm giam, Cường đã "rút lại lời khai" này, nhưng các diễn tiến của vụ án cho thấy, trong lịch sử làm ăn rất "liều" của mình, nếu không có sức ép đủ lớn, chưa bao giờ Agribank "giải ngân" theo kiểu "ném tiền" như thế.
Chỉ với 23 "sổ đỏ" đất nông nghiệp, "Dự án" chưa hề có một "bút phê" nào của cấp có thẩm quyền, vậy mà Dương Thanh Cường "xin vay 700 tỷ đồng", Agribank "duyệt ngay cho vay 700 tỷ đồng". Và, chỉ trong một thời gian mấy tháng, Agribank đã giải ngân 628 tỷ đồng cho dù "dự án" của Cường không hề có bất cứ dấu hiệu nào khởi động.
Theo Cáo trạng (liệt kê), có tới 566 tỷ đồng (một con số khác là 386,36 tỷ đồng - trong số 628 tỷ đồng này) ngân hàng Agribank chuyển cho Cường thông qua tài khoản cá nhân của bà Trần Hoa Mai.
"Giải ngân" xong, Agribank liền cho Cường "mượn" những cuốn "sổ đỏ" đang được thế chấp này đi làm thủ tục sang tên. Trưởng phòng tín dụng Agribank, chi nhánh 6, Hồ Văn Long khai, lẽ ra Agribank phải cử cán bộ "áp tải" những cuốn sổ đỏ này đến cơ quan chức năng, nhưng Long tin lời Dương Thanh Cường, "nếu để Cường trực tiếp cùng bà Trần Hoa Mai và ông Trần Quốc Liêm đi làm sẽ nhanh hơn".
Cường mang khối tài sản đã thế chấp này đi gặp ông Trầm Bê, ông Trầm Bê cho vay tiếp 1.500 lượng vàng (từ ngân hàng Phương Nam - chúng ta còn có cơ hội "gặp" lại ông Trầm Bê khi nói về gia đình này).
Những hành động tiếp tay khá đắc lực cho Dương Thanh Cường lừa đảo đã không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các cơ quan tố tụng cho rằng, mối quan hệ giữa vợ chồng thiếu tướng Trần Quốc Liêm và Cường là "quan hệ dân sự".
Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao vừa đặt vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tham khảo án lệ trong trường hợp này không có ví dụ nào tốt hơn là đối chiếu với hợp đồng chuyển nhượng đất giữa công ty Bình Giã và Tamexco hồi 1994.
Ông Trần Quang Vinh, chủ công ty Bình Giã, vì bán đất cho Tamexco và sau đó số đất này được "định giá cao lên" để Tamexco đi thế chấp mà cả ông, ông giám đốc Tamexco và ông trưởng phòng công chứng Vũng Tàu đều bị tử hình.
Hội đồng thẩm định giá TP HCM định giá "23 sổ đỏ của Cường" chỉ tương đương 126 tỷ đồng - giá tại thời điểm thế chấp - vậy mà Agribank vẫn cho vay 628 tỷ. Và, chỉ riêng 5 hecta của vợ chồng thiếu tướng Trần Quốc Liêm, đã "bán" được cho Dương Thanh Cường 347,9 tỷ đồng (giá 7 triệu đồng/m2 đất ruộng). Vợ chồng ông Liêm bà Mai đã nhận 171,2 tỷ đồng (119 tỷ chuyển khoản; 52,2 tỷ do Cường nhiều lần mang tới tận nhà).
So sánh vụ này với Tamexco là xúc phạm vong linh các bị án trong vụ Tamexco, đặc biệt là xúc phạm ông Trần Quang Vinh. Ông Vinh là một nhà doanh nghiệp nghiêm túc. Ông đã bỏ ra rất nhiều tiền để làm "cơ sở hạ tầng đổi đất", góp phần làm thay đổi bộ mặt Bãi Trước Vũng Tàu. Cho đến khi ông bị hành quyết, Chính quyền Vũng Tàu vẫn còn nợ ông Trần Quang Vinh 17 tỷ.
Khoản tiền "thất thoát" trong vụ án Dương Thanh Cường chủ yếu nằm ở "Dự án Thanh Phát". Một "Dự án ma" - có sự tham gia rất trực tiếp của ông bà Trần Quốc Liêm, Trần Hoa Mai - đã giúp Cường chiếm đoạt của Agribank 966 tỷ đồng (con số thiệt hại trên thực tế theo luật sư Trương Thị Hòa là 1.500 tỷ đồng). Vậy nhưng, trong mấy ngày xử án vừa qua, cho dù được các luật sư yêu cầu, Tòa cũng không triệu tập ông bà Liêm - Mai.
Đất nông nghiệp, chưa được chuyển mục đích sử dụng, không được chấp thuận làm dự án, được mua bán với giá 7 triệu/m2, có thể coi là một "giao dịch dân sự ngay tình" không.
Nếu đã xác định khoản tiền 171,2 tỷ đồng mà Dương Thanh Cường trả cho vợ chồng tướng Trần Quốc Liêm được lấy từ Agribank thì nên coi đó là những đồng tiền "do Cường phạm tội mà có" chứ không thể coi đó là tiền của Cường để xác nhận thương vụ này là bình thường.
Có một câu hỏi mà các "đồng chí trong Đảng" của ông Liêm cũng cần đối chiếu với Nghị quyết TW 4 để đặt ra là, khối tài sản khổng lồ mà tướng công an Trần Quốc Liêm có, liệu đã được kê khai trung thực.
Không phải tự nhiên mà vài bị cáo từ Agribank đã "đấm ngực" trước tòa. Những cán bộ ngân hàng ấy, nếu không có sức ép như các lời khai ban đầu, liệu họ có dám giải ngân một khoản tiền khổng lồ cho một người có nhân thân như Dương Thanh Cường với các điều kiện thế chấp vu vơ như thế.
Tòa án nhân dân TP HCM nên hoãn tuyên án; trả hồ sơ để cơ quan điều tra điều tra lại từ đầu như đề nghị của một số luật sư. Và, theo tinh thần mà các vị đại biểu đang đề nghị ở Quốc hội: Với những vụ án liên quan đến những người quyền lực như thế này, nên trao cho một cơ quan điều tra đủ quyền độc lập.
Ông Trần Quốc Liêm không những là em của bà Trần Thanh Kiệm - phu nhân đương kim Thủ tướng - mà còn đang là một viên tướng quyền thế.
Năm 2010, Công an TP HCM (PC46) đã phát hiện, điều tra vụ án này và đã lên kế hoạch bắt "siêu lừa Dương Thanh Cường". Thiếu tướng Phan Anh Minh đích thân chỉ đạo. Nhưng ông Minh - một người được tiếng cương trực - cũng đã không vượt qua được những áp lực. Phải mất hơn hai năm sau, Cơ quan cảnh sát điều tra C48 của Bộ mới khởi tố được một vụ án "lừa đảo hai năm rõ mười".

Nếu phiên tòa xử "đại án tham nhũng" này khép lại vào thứ Tư, 4-11-2015. Và báo chí vẫn vờ như không có hai cái tên Trần Quốc Liêm - Trần Hoa Mai. Thì, cho dù Nghị quyết "Bốn, Năm" của TW có lấy chức Trưởng ban chống tham nhũng ra khỏi tay Thủ tướng. Trưởng ban chống tham nhũng mới, có vẻ như, vẫn chưa nắm được "thượng phương bảo kiếm".

Ngày 12 tháng 06 năm 2015

862. 'DỰ ÁN XÃ HỘI HÓA' LÀ CÁI K**C KHÔ J?

Mỹ Lệ
Thứ Sáu, 12/6/2015, 06:10 (GMT+7)


Dự án BOT cầu Phú Mỹ - Ảnh minh họa: Anh Quân

(TBKTSG) - Gần đây, có nhiều dự án lớn được giới thiệu là dự án của Nhà nước nhưng thực hiện bằng nguồn vốn xã hội hóa, sẽ do tư nhân bỏ vốn ra làm, thậm chí có cả các dự án xây dựng khu hành chính tập trung. Lý do không dùng vốn ngân sách thường được sử dụng như một điểm cộng trong quá trình quyết định chủ trương đầu tư trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, nợ công tăng cao. TBKTSG phỏng vấn luật sư Nguyễn Tiến lập về xu hướng này.


Ông Nguyễn Tiến Lập.

TBKTSG: Nên hiểu (bản chất) các dự án xã hội hóa này là gì, thưa ông?

- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Trong ngữ cảnh “đầu tư”, chữ “xã hội hóa” được hiểu là các dự án đáng ra phải do Nhà nước đầu tư nhưng nay chuyển sang dùng vốn của thành phần khác, phi ngân sách nhà nước, mà thực chất là ám chỉ nguồn vốn tư nhân.

Về mặt tài chính, khi thuyết trình các “dự án xã hội hóa” hay dự án sử dụng “vốn xã hội hóa” trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các đại biểu Quốc hội hay các đại biểu hội đồng nhân dân, tính thuyết phục dường như cao hơn bởi ngầm định rằng “Nhà nước không mất gì mà chỉ có lợi” vì “ngân sách có phải chi đâu”...

Tuy nhiên, phân tích từ góc độ kinh tế quốc dân cũng như nền tảng pháp lý thì vấn đề không đơn giản như vậy.

Đối với nền kinh tế nói chung, đồng vốn nào cũng như nhau, không có sự phân biệt giữa vốn nhà nước hay tư nhân. Vấn đề ở chỗ sử dụng vốn thế nào cho công bằng, minh bạch, an toàn và hiệu quả. Ta vẫn hay nói rằng, khi đầu tư bằng vốn tư nhân, nếu có rủi ro thì tư nhân chịu.

Trên thực tế điều này không hẳn đúng, chẳng hạn các dự án xây khu đô thị, trung tâm thương mại vừa qua, trong đó, vốn mà nhà đầu tư tư nhân thực sự bỏ ra ban đầu chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, ước khoảng 10% hoặc 15% hay thấp hơn, số còn lại là vay ngân hàng. Sau đó, bằng nhiều cách, các chủ dự án đã thu hồi ngay phần “ứng vốn trước” kia của mình, cộng với khoản lãi “khủng”, rồi mặc cho doanh nghiệp có thể phá sản và ngân hàng ôm đống nợ khó đòi.

Cá biệt có trường hợp một vài chủ dự án có thể bị truy tố, vào tù bởi tội “lừa đảo” nhưng số đó rất ít và nếu có xảy ra thì họ cũng không sợ bởi “người ra đi nhưng tiền còn ở lại”.

Tôi sợ rằng, quy luật này sẽ lặp lại đối với các dự án cơ sở hạ tầng lớn, đang và sắp triển khai. Cuối cùng ai sẽ là người gánh chịu các rủi ro kia, nếu xảy ra? Phải chăng chính là nền kinh tế, là toàn bộ xã hội?

Từ góc độ pháp lý, một cách sòng phẳng thì Nhà nước phải có trách nhiệm đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng; và đổi lại, Nhà nước có quyền bán tài nguyên quốc gia hay phát hành trái phiếu để vay nợ rồi dùng tiền thuế để trả... Nay, nếu sử dụng con đường “xã hội hóa” để triển khai các dự án này sẽ đồng nghĩa với việc Nhà nước trao các quyền ấy, một cách cụ thể và trong từng dự án riêng lẻ, cho các ông chủ tư nhân.

TBKTSG: Với bản chất như vậy, có nhiều câu hỏi cần được đặt ra liên quan đến quan hệ giữa ba bên: Nhà nước - nhà đầu tư và người dân?

- Các câu hỏi đặt ra là Nhà nước, tức chính quyền ở trung ương và địa phương, có quyền làm như vậy không, nếu có thì trong giới hạn và điều kiện như thế nào?

Đối với chủ đầu tư, thì sẽ là các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu đối với cơ sở hạ tầng được tạo ra, quyền huy động vốn xã hội để thực hiện dự án và quyền thu tiền từ người sử dụng để hoàn vốn và kiếm lời.

Còn đối với người dân với tư cách là người tiêu dùng thì liệu quyền được lựa chọn của họ có được đảm bảo? Ví dụ Nhà nước quyết định xây một con đường hay cây cầu duy nhất tại một địa bàn, giao cho tư nhân làm, mặc dù có thể đạt chất lượng tốt, nhưng người dân, dù giàu hay nghèo, đều buộc phải đi con đường và cây cầu ấy và trả mức phí cao như nhau mà không thể lựa chọn!

TBKTSG: Theo ông, vấn đề đối với Việt Nam, xét cả góc độ tích cực và cảnh báo tiêu cực trong chuyện này là gì? Chẳng hạn có xu hướng hiện nay đối với các dự án hạ tầng BOT là chúng bị đội vốn lên rất cao so với dự toán ban đầu.

- Ý nghĩa tích cực của các dự án hạ tầng “xã hội hóa” thì dễ thấy. Đó là việc có thể sử dụng nguồn vốn bên ngoài để thực hiện dự án. Còn tác động tiêu cực thì một phần tôi đã nói ở trên.

Tuy nhiên, đúng là có một vấn đề trước mắt là nhiều dự án BOT phát triển hạ tầng thường có chi phí cao và bị đội vốn so với dự toán ban đầu. Từ góc độ dự án, chúng ta quan tâm hai vấn đề là chất lượng sản phẩm và giá thành đầu tư, chưa nói tới thời hạn hoàn thành.

Chất lượng các con đường BOT vừa qua, như chúng ta thấy, không cao, nếu không muốn nói là khá kém về tuổi thọ và độ bền. Còn về giá cả thì có thể thấy là rất cao, chưa kể tới việc phải cộng thêm các tài sản là “thương quyền” mà Nhà nước đã cấp hay chuyển nhượng cho các chủ dự án với mức ưu đãi, tức ngược với quan niệm cho rằng “tư nhân sử dụng tiền túi nên bao giờ cũng rẻ hơn”.

Tuy giá thành cao nhưng chủ đầu tư không e ngại bởi họ vẫn có thể thu lời thông qua khai thác các “thương quyền” được cấp, trong khi phần rủi ro tài chính sẽ do xã hội gánh chịu thông qua nợ xấu của các ngân hàng như đã diễn ra vừa qua.

Do đó, yêu cầu đặt ra đối với các dự án BOT là cơ chế kiểm soát của Nhà nước. Nó cần phải chặt chẽ, thậm chí ở mức cao hơn so với chính các dự án mà Nhà nước tự làm.

TBKTSG: Có sự khác biệt gì trong câu chuyện xã hội hóa dự án xây dựng các khu hành chính tập trung, vốn trước đây do ngân sách nhà nước đầu tư, so với dự án hạ tầng xã hội như giao thông, cung cấp nước sinh hoạt, xử lý nước thải..., do doanh nghiệp đầu tư và thu hồi vốn trực tiếp từ người dân khi sử dụng dịch vụ? Phải chăng đây là một bước mở rộng mới trong phương thức xã hội hóa, và vấn đề quản trị các dự án xây khu hành chính tập trung do tư nhân đầu tư nên như thế nào?

- Sự khác biệt là rất lớn và mang tính bản chất bởi “xây dựng trụ sở hành chính” không phải là đầu tư phát triển mà chỉ là chi tiêu công thông thường, tức thuộc hạng mục cần cắt giảm một khi thiếu thốn ngân sách do thu không bảo đảm bởi thực trạng yếu kém của nền kinh tế. Do đó, có thể nói rằng nó không bao giờ mang tính cấp thiết cả, cho dù được diễn đạt dưới danh nghĩa để nhằm cải cách các thủ tục hành chính. Bởi vậy, nếu các dự án loại này được triển khai theo phương thức “xã hội hóa” thì phải coi là một sự dị biệt, so với xu hướng “xã hội hóa” dự án cơ sở hạ tầng thông thường.

Từ góc độ tài chính, cần lưu ý rằng khi một địa phương xây dựng trụ sở bằng cách sử dụng tiền của tư nhân, thì đó chính là đi vay nợ tư nhân để chi tiêu công, tuy nhiên có thể lại không ghi vào ngân sách nợ. Có nghĩa là sẽ khó kiểm soát từ góc độ Luật Ngân sách.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý khả năng phức tạp và khó làm minh bạch các cơ chế liên quan như đàm phán với chủ đầu tư về giá thành đầu tư cũng như chuyển nhượng các thương quyền thuộc tài sản nhà nước tại địa phương, ví dụ quyền sử dụng đất hay các quyền kinh doanh khác.

Chi phí vốn của các dự án BOT thường đắt hơn so với lãi suất trái phiếu chính phủ. Người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu cuối cùng thông qua việc trả “phí dịch vụ” ngày càng tăng. Ảnh: THÀNH HOA

TBKTSG: Trên thực tế, nhu cầu đầu tư các dự án hạ tầng rất lớn mà ngân sách nhà nước thì luôn có hạn, đâu là cách làm đúng để giải bài toán này? Kinh nghiệm của các nước trong thực hiện các dự án này như thế nào?

- Không thể phủ nhận một thực tế không chỉ ở nước ta mà tất cả các nước đang phát triển, thậm chí ngay cả các nước phát triển, là nhu cầu tài chính rất lớn cho việc phát triển, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng. Nhu cầu này thường vượt quá khả năng cho phép của các chính phủ trong giới hạn của luật ngân sách. Do đó, từ những năm 90 của thế kỷ trước, việc triển khai dự án hạ tầng theo hình thức nhượng quyền cho tư nhân mà phổ biến là BOT đã trở thành một trào lưu được chào đón từ châu Âu, đến Mỹ, Nhật, Úc và các nước khác.

Các lợi thế được chờ đợi từ con đường mới này không phải chỉ là sự đáp ứng nhu cầu về nguồn tài chính bổ sung, mà quan trọng hơn, còn là việc ứng dụng các công nghệ mới cũng như khả năng quản trị và điều hành hiệu quả của khu vực tư nhân.

Tuy nhiên, với thời gian người ta đã bắt đầu làm các phân tích và so sánh, thấy có các “tác động ngược”, thậm chí gây bất ổn cho nền kinh tế.

Chẳng hạn, về mặt tài chính, chi phí vốn của các dự án BOT thường đắt hơn so với lãi suất trái phiếu chính phủ. Tức là, nếu chính phủ đi vay bằng cách phát hành các trái phiếu công trình thì chi phí sẽ rẻ hơn. Các ngân hàng và định chế tài chính sẽ dễ dàng chấp nhận tài trợ hơn nếu đó là dự án chính phủ, bởi rủi ro sẽ ít hơn.

Ngoài ra, quá trình đàm phán và chuẩn bị cho các dự án BOT thường bị kéo dài, và một khi như vậy, sẽ bị tác động tiêu cực do các điều kiện về kinh tế và chính sách vĩ mô thay đổi.

Tại Việt Nam, có đặc thù cần lưu ý là vốn tín dụng cho các dự án BOT xây cầu, đường thường lấy từ nguồn ngắn hạn để sử dụng dài hạn, do đó lãi suất buộc phải thả nổi, trong khi đồng tiền Việt Nam lại chưa thể chuyển đổi. Điều này làm tăng tính rủi ro cho cả chủ đầu tư và nhà cấp vốn.

Người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu cuối cùng thông qua việc trả “phí dịch vụ” ngày càng tăng cho các ông chủ tư nhân của các cây cầu, con đường ấy. Khác với việc trả thuế hay phí nhà nước, vốn phải do Quốc hội quyết định.

Tóm lại, tôi cho rằng con đường “xã hội hóa” các dự án hạ tầng chỉ nên coi là một giải pháp chứ hoàn toàn không phải là cứu cánh. Do đó, khi triển khai về phương diện chính sách, cần luôn luôn có sự cân nhắc kỹ càng để lựa chọn và quyết định, bao gồm cả mức độ về lượng trong tổng thể các dự án được quy hoạch, quy mô và sự tác động của từng dự án cụ thể, cũng như các biện pháp kiểm soát để giảm thiểu các rủi ro của dự án đối với nền kinh tế và sự tổn hại đối với lợi ích xã hội.

TBKTSG: Chính phủ vừa ban hành Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm tập trung đầu mối điều chỉnh thống nhất các hình thức đầu tư có tính chất xã hội hóa từ trước đến nay và có bổ sung một số hình thức. Ông nhận xét gì về các điều kiện pháp lý hiện nay cho vấn đề xã hội hóa này?

- Việc ban hành nghị định này là một nỗ lực lớn của Chính phủ nhằm tạo ra một quy chế pháp lý rõ ràng và sát thực hơn trên cơ sở tổng kết các kết quả và cả thất bại của các dự án cơ sở hạ tầng được triển khai chủ yếu theo hai hình thức BT và BOT trước đó.

Quản lý nhà nước đối với các dự án cơ sở hạ tầng “xã hội hóa” sẽ còn phức tạp và khó khăn hơn nữa, so với các dự án hạ tầng trước đây do Nhà nước tự thực hiện.



Cho tới nay, các dự án BT thường được thực hiện theo cơ chế “đổi đất lấy hạ tầng” khởi phát từ những năm 80 của thế kỷ trước. Với sự đi xuống của thị trường bất động sản, các rủi ro đối với dự án BT loại này tăng lên, nên loại dự án này cũng trở nên kém hấp dẫn hơn. Với các dự án BOT, vấn đề chung lại ở chỗ nguồn vốn huy động, hoặc chủ yếu từ tín dụng ngân hàng thay cho trái phiếu công trình, hoặc vẫn sử dụng vốn nhà nước một cách gián tiếp.

Vẫn còn khá sớm để đánh giá các tác động thực tế của nghị định mới này, tuy nhiên, có thể nói rằng đối với cơ chế “đối tác công tư” nói chung và các dự án cơ sở hạ tầng triển khai theo hình thức “xã hội hóa” này nói riêng, một khung khổ pháp lý hoàn thiện sẽ không chỉ bao gồm một văn bản pháp lý, hơn nữa lại mới ở cấp độ một nghị định chính phủ.

Các luật cũng như cơ chế thực thi luật trong lĩnh vực này cần phải được hoàn thiện ngay, bởi quản lý nhà nước đối với các dự án cơ sở hạ tầng “xã hội hóa” sẽ còn phức tạp và khó khăn hơn nữa, so với các dự án hạ tầng trước đây do Nhà nước tự thực hiện.

TBKTSG: Sau một thời gian dài chỉ chú trọng vào đầu tư công trong khi nguồn lực không đủ, quản lý hiệu quả đầu tư không tốt, nay ta có xu hướng xu hướng cổ xúy cho việc xã hội hóa, mà nổi lên gần đây là xã hội hóa các dự án hạ tầng xã hội, nhưng điều đó cũng tiềm ẩn những “bất ổn” như ông vừa nói ở trên.
Trong bối cảnh như vậy, theo ông, làm sao để sử dụng vốn nói chung cho “công bằng, minh bạch, an toàn và hiệu quả” vì “đối với nền kinh tế nói chung, đồng vốn nào cũng như nhau, không có sự phân biệt giữa vốn nhà nước hay tư nhân”?

- Trong điều kiện cắt giảm đầu tư công để phát triển các dự án cơ sở hạ tầng do thiếu hụt về ngân sách, chủ trương huy động các nguồn vốn khác từ xã hội cho mục tiêu này là hoàn toàn đúng. Vấn đề cần lưu ý trước hết ở đây là sự đa dạng hóa cách thức huy động vốn, một biện pháp để phân tán rủi ro. Chẳng hạn như không nên tập trung ở mức quá cao vào vốn tín dụng ngân hàng mà cần tăng mức sàn vốn góp của chủ đầu tư; mở rộng phát hành trái phiếu công trình và phát hành cổ phiếu trên sàn chứng khoán.

Tiếp đó là tăng cường chất lượng, hiệu quả, hiệu lực và tính kỷ luật pháp chế của các biện pháp quản trị, bao gồm quản trị tài chính, quản trị dự án và quản trị chất lượng công trình.

Ngoài ra, vì PPP nói chung và BOT nói riêng vốn là một cơ chế phức hợp cả về chính sách, pháp luật, tài chính và quản trị, nên chăng Chính phủ cần thành lập một cơ quan chuyên biệt để quản lý và chịu trách nhiệm về lĩnh vực này?

Chúng ta đều biết rằng hậu quả của núi nợ xấu ngân hàng chính là do quản trị tài chính yếu kém, việc để lọt các chủ đầu tư không đủ năng lực là do thiếu cơ chế đấu thầu minh bạch và nguyên nhân của việc các con đường cao tốc mới làm xong đã phải sửa là do thiếu sự giám sát hiệu quả cả về chuyên môn lẫn từ góc độ quản lý nhà nước. Tất cả những vấn đề trên đều đã xảy ra trong các câu chuyện của quá khứ. Do đó, cùng với việc ban hành một loạt các văn bản pháp luật mới trong thời gian qua trong lĩnh vực đầu tư, đấu thầu dự án và tài chính ngân hàng, tôi tin và hy vọng rằng các bài học kinh nghiệm đã được rút ra cho một chặng đường phát triển tiếp theo, không kém phần sôi động, của đất nước.  

Mời xem thêm