Nhãn

14 tháng 9, 2013

828. Nguyễn Trọng Vĩnh: THỰC TIỄN LÀ CHÂN LÝ

Posted by basamnews on September 13th, 2013

Trước hết phải nói rằng không ai có thể phủ nhận công lao của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1975 trở về trước. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc cách mạng tháng 8/1945 mở ra kỷ nguyên độc lập tự do, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành độc lập thống nhất nước nhà. Thời kỳ đó, tuy có sai lầm trong cải cách ruộng đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công khai tự phê bình và xin lỗi dân, Tổng bí thư Trường Chinh đã nhận trách nhiệm và xin từ chức, nhân dân vẫn tin tưởng, tự nguyện theo sự lãnh đạo của Đảng mà không cần có “Điều 4”. Nếu dùng cụm từ “Đảng quang vinh” thì phải dành cho Đảng của thời kỳ ấy, chứ không phải cho bây giờ, vì Đảng bây giờ đã khác rồi. Bộ phận không nhỏ Đảng viên thoái hóa biến chất, suy thoái về đạo đức, lối sống, tham nhũng tràn lan từ dưới lên trên, phần lớn lại nằm trong những đảng viên có chức có quyền, càng cao thì tham nhũng càng lớn, uy tín của Đảng giảm sút, lòng tin của dân đối với Đảng mất dần. Nhà nước và nhân dân tôn vinh Lý Thái Tổ, Lý Nhân Tông, chứ không ai tôn vinh Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hoàng.
Sau đổi mới năm 1986“Kinh tế có bước phát triển, nhưng đó là so với điểm xuất phát thấp của chúng ta, nếu so với bạn bè trên thế giới và ngay trong khu vực thì còn chậm phát triển và còn nghèo lắm”, đúng như nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói. Tôi xin nói thêm là: Tụt hậu khá xa. Đời sống nói chung có cải thiện so với thời bao cấp, có một số thành tựu trong xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu, sân bay, bến cảng, chỉnh trang đô thị, có một số khá ngoạn mục như thành phố Đà Nẵng, Nha Trang, … Tuy nhiên, so thành tựu với sai lầm, tổn hại thì sai lầm tổn hại nhiều gấp mấy lần, làm cho dân nghèo, nước yếu.
Từ Hội nghị Thành Đô, nhất là từ Đại hội IX đến nay, lãnh đạo, điều hành kinh tế biểu hiện nhiều sai lầm yếu kém: cho Trung Quốc vào khai thác boxit Tây Nguyên, phá nát môi trường, gây ô nhiễm di hại lâu dài cho dân, đương gặp khó khăn về vận chuyển, sống dở chết dở; bán rừng và để chặt phá tan hoang rừng đầu nguồn gây lũ lụt lớn thường xuyên; cưỡng chế lấy đất của nông dân quá nhiều giao cho giới đầu tư địa ốc làm giầu, hàng vạn nông dân mất ruộng, thất nghiệp sống vật vờ; nay hàng vạn căn hộ thừa ế; hàng chục vạn doanh nghiệp tư nhân phá sản hoặc ngừng sản xuất, hàng triệu lao động không có việc làm; các Tập đoàn kinh tế nhà nước đại đa số vừa thua lỗ vừa tham ô thất thoát của nhà nước hàng trăm ngàn tỉ đồng; mỗi năm nhập siêu hàng chục tỉ USD; nợ xấu ngân hàng rất lớn; nợ công và nợ nước ngoài chồng chất đến mức nguy hiểm. Có chuyên gia kinh tế nổi tiếng người nước ngoài nói: “Kinh tế Việt Nam đã tụt xuống đến đáy”. Thêm vào đó, văn hóa đạo đức suy đồi, trật tự xã hội hỗn loạn.
Không có tự do, dân chủ: cấm tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, cấm tụ tập đông người (từ 5 người trở lên!), cấm biểu tình yêu nước, cấm công nhân đình công tự phát, cấm dân oan khiếu kiện tập thể, cấm trí thức phản biện, cấm báo tư nhân, cấm đảng viên cùng ký khiếu kiện cùng với dân dù quyền lợi cũng bị xâm phạm như dân, cấm đảng viên không được tự do ứng cử vào Quốc hội và các cơ quan dân cử, không cho người trên 60 tuổi được ứng cử vào Quốc hội (trừ quan chức cao cấp trong Đảng và chính quyền), hạn chế công dân ngoài Đảng chỉ được 15% trong Quốc hội, còn lại toàn là đảng viên, chủ yếu là đảng viên là người có chức quyền các cấp, hóa ra Quốc hội là “Đảng hội”. Phá, quấy rầy, uy hiếp những chủ trang mạng mà nhiều người truy cập, nghị định 72 cấm thông tin trên các trang mạng internet, bắt bớ, bỏ tù các “bloger” dám phê phán sai trái của chính quyền, dám đấu tranh đòi dân chủ, đòi đa đảng, đòi tam quyền phân lập, đòi bỏ Điều 4, quy chụp cho họ là chống nhà nước v.v… Phần lớn những điều cấm ấy là vi phạm Hiến pháp. Thế mà bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nói rằng: “Xã hội ta dân chủ gấp vạn lần xã hội tư bản”, trong khi bà nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nói rất đúng rằng: “Hòa bình và độc lập rồi, trong xây dựng đất nước phải có tự do dân chủ thì mới có điều kiện phát triển đất nước mang lại hạnh phúc cho mọi người”. Tình hình không có tự do, dân chủ như kể trên là cơ sở để ông Lê Hiếu Đằng và nhiều nhân sĩ trí thức nói:“Đảng Cộng sản độc tài toàn trị”.
Từ Đại hội IX đến nay, trong lãnh đạo  thiếu ý chí, tự chủ tự cường, bị Trung Quốc khống chế, lệ thuộc họ.
Với thủ đoạn lừa phỉnh “16 chữ, 4 tốt” và sợi dây trói “cùng chung ý thức hệ”, nhà cầm quyền Trung Quốc cấm ta không được nhắc đến cuộc xâm lược tháng 2/1979, tàn phá và giết hại đồng bào các tỉnh biên giới của ta; hàng năm không được tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ hi sinh trong trận chiến đó và hơn 60 cán bộ, chiến sĩ hi sinh năm 1988 trong trận đánh của Trung Quốc để cướp các bãi đá trong quần đảo Trường Sa của chúng ta; trong đàm phán biên giới và vịnh Bắc bộ, họ ép ta và ăn lấn được rất nhiều đất và biển của chúng ta; họ tùy tiện can thiệp vào nhân sự nội bộ của ta.
Trên biển Đông, họ mặc sức hành động ngang ngược, bắt, đánh đắm tàu cá, xua đuổi, bắn ngư dân ta trong vùng đặc quyền kinh tế và trong ngư trường truyền thống quanh quần đảo Hoàng Sa của chúng ta, cắt cáp tàu Bình Minh và tàu Viking II hoạt động trong lãnh hải của chúng ta, cho người vào “nuôi cá” trong vịnh Cam Ranh để nghiên cứu khảo sát quân cảng quan trọng bậc nhất Đông Nam Á và là địa bàn xung yếu của ta. Mỗi khi Trung Quốc có hành động bạo ngược ở biển Đông, người phát ngôn Bộ Ngoại giao ta cũng phản đối lấy lệ, không dám triệu tập Đại sứ của họ lên Bộ ngoại giao để trao công hàm phản đối mà chỉ trao cho cán bộ sứ quán của họ, không như họ làm đối với tôi khi tôi làm Đại sứ nước ta bên nước họ. Trên tờ “Hoàn cầu thời báo” của Đảng Cộng sản Trung Quốc thỉnh thoảng có bài lăng mạ và dọa đánh Việt Nam mà báo chí phía ta cũng im. Điều gì mà Trung Quốc không muốn thì lãnh đạo ngại không dám làm. Biểu tình yêu nước đông người hay cá nhân chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của tổ quốc lại bị đàn áp. Ta có đầy đủ tư liệu về chủ quyền biển đảo của Việt Nam không giáo dục rộng rãi cho toàn dân biết, không in ra nhiều thứ tiếng, trình lên LHQ và phổ biến cho thế giới đề dư luận ủng hộ ta.
Nội lực nước ta quá yếu
Nội lực của một quốc gia bao gồm nhiều yếu tố, thông thường là 3 yếu tố chính: Lực lượng kinh tế, lực lược quốc phòng, sức dân và lòng dân. Ở nước ta hiện nay thì kinh tế quá yếu kém, quốc phòng là bí mật quốc gia tôi không dám lạm bàn. Ở đây, tôi chỉ nói đến yếu tố sức dân và lòng dân. Muốn xây dựng nội lực thì phải gắn bó với dân, dựa vào khối đại đoàn kết dân tộc, chăm lo đời sống cho dân, thực hiện dân chủ. Lâu nay lại làm ngược lại, nào là tăng giá xăng dầu, tăng giá điện, giá nước, tăng học phí, tăng viện phí, tăng đóng góp, quyên góp, mọi thứ đổ lên đầu dân, tăng khó khăn cho đời sống của nhân dân, lại còn tước đoạt quyền lợi của dân, đàn áp dân. Như thế thì làm sao phát huy được sức mạnh của dân, xây dựng thành nội lực. Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nói rất đúng: “Không có nội lực sẽ khó giữ chủ quyền.”
Thiếu tướng Lê Văn Cương nói: “… Sự hưng vong , thịnh suy phụ thuộc rất lớn vào trí tuệ và phẩm chất của đội ngũ lãnh đạo là những người ở vị trí nắm quyền lực tối cao”. Đó chính là ông muốn nói đến trách nhiệm của những nhà lãnh đạo hiện nay.
Trước tình hình kinh tế sa sút, đất nước suy yếu, xã hội không có dân chủ tự do, lệ thuộc, ông Lê Hiếu Đằng một người cách mạng chân chính, trên giường bệnh với tinh thần yêu nước và xây dựng, nêu vấn đề lập một đảng mới (Đảng Dân chủ xã hội chẳng hạn) là “đòi hỏi khẩn thiết của cuộc sống”, để cho có sự cải biến tích cực làm cho đất nước phát triển nhanh. Có một đảng mới, có chính danh để đấu tranh nhằm hạn chế những sai lầm của Đảng Cộng sản, để Đảng Cộng sản tự điều chỉnh tốt lên, để có tự do, dân chủ, xã hội lành mạnh là một điều hay.
Chính ông Lê Hiếu Đằng đã viết “Chúng ta đấu tranh với phương châm công khai, minh bạch, ôn hòa, bất bạo động, phản đối tất cả mọi hành động manh động, bạo lực, khiêu khích, gây chiến tranh” và ông cũng viết “Tôi chưa bao giờ nói là chống Đảng Cộng sản hoặc xóa bỏ Đảng Cộng sản”. Vậy có gì là “náo động thiên cung” đâu, mà các vị tiến sĩ, giáo sư, các nhà “bảo hoàng, bảo thủ” nhao nhao phê phán, phản bác lên án ông Đằng bằng cách cắt xén, xuyên tạc, suy diễn, bất chấp sự thật, với những lý luận gượng gạo, nặng về quy chụp theo kiểu “bỏ bóng đá người” thế!
Đề nghị các vị cho đăng toàn văn bài “Viết trên gường bệnh” của ông Lê Hiếu Đằng và những bài của các tác giả đồng tình với ông Đằng lên các báo “lề Đảng” song song với các bài phản bác của các vị, để công chúng bàn luận xem chân lý thuộc về ai. Có thế mới công bằng.
N.T.V.
* Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên là Ủy viên BCHTƯ ĐCSVN, Đại sứ VN tại TQ (xem thêm trên Wikipedia).

12 tháng 9, 2013

827. Phạm Chí Dũng - Thái Bình 2013: Tức nước vỡ bờ


Trụ sở chính quyền tỉnh Thái Bình, nơi xảy ra vụ án. Ảnh báo trong nước


Chiều qua 11/09/2013, một người đã xông vào trụ sở Ủy ban Nhân dân thành phố Thái Bình, bắn thẳng vào các cán bộ Trung tâm Phát triển Quỹ đất khiến một người chết và ba người khác trọng thương. Người nổ súng tên là Đặng Ngọc Viết đã tự sát sau đó. Báo chí trong nước cho biết, nguyên nhân là do bất đồng trong việc đền bù giải phóng mặt bằng. RFI Việt ngữ đã đặt câu hỏi với nhà báo tự do Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh về sự kiện đang làm chấn động dư luận.
 
RFI: Xin chào nhà báo Phạm Chí Dũng. Đây có phải là lần đầu tiên người dân phản kháng bằng cách cố ý sát thương?

Xã hội Việt Nam vừa chứng nghiệm một bùng nổ cá nhân chưa từng có tiền lệ: lần đầu tiên người dân phản kháng chính quyền bằng hành vi sát thương có chủ đích.

Mười sáu năm sau “cơn sóng thần” 1997 chống tham nhũng ở Thái Bình, địa phương có tỉ lệ liệt sĩ thuộc loại cao nhất nước này lại phải trải nghiệm tâm thế “cùng tất biến”. Đặng Ngọc Viết đương nhiên sẽ bị nhà cầm quyền coi là “sát nhân máu lạnh” khi người dân này đã dùng súng colt bắn thẳng vào đầu các cán bộ đầu não của Trung tâm Phát triển Quỹ đất – một cơ quan trực thuộc Ủy ban Nhân dân thành phố Thái Bình. Ít nhất hai nạn nhân đã tử vong.

Những xác nhận ban đầu cho thấy không có bất kỳ dấu hiệu tâm thần nào nơi hung thủ. Ngược lại, người gây án đã dường như chủ tâm tìm cho một mình sự kết thúc tương tự với các nạn nhân của anh ta.

Những tin tức ban đầu cũng xác nhận không có mối quan hệ tư thù nào giữa các nạn nhân với kẻ giết người. Vậy nguồn cơn còn lại thuộc về mối quan hệ nào?

Khác với vụ đánh bom tự sát xảy ra ở thị trấn Bạch Hạt Than, huyện Xảo Gia, tỉnh Vân Nam của Trung Quốc vào ngày 10/05/2012 khiến 4 người chết và 16 người bị thương mà báo chí Bắc Kinh không dám thừa nhận về nguồn cơn phẫn uất do bị thu hồi đất, giờ đây truyền thông Việt Nam đã đưa thông tin ban đầu về mối liên quan giữa hung thủ với vụ việc thu hồi và giải tỏa đất mà gia đình anh ta lại là một trường hợp rất thiếu may mắn trong số đó.

Nhưng bất hạnh bao trùm lên tất cả là “cùng tất biến” đã hóa thân thành logic từ mọi mâu thuẫn đến xung đột đất đai trong xã hội Việt Nam từ hai chục năm qua. Nếu từ năm 1995, vào lúc con sóng đầu cơ bất động sản đầu tiên thời mở cửa ồn ào cảnh sắc lợi nhuận và bắt đầu kéo theo bệnh dịch đền bù đất đai từ không thỏa đáng đến thảm cảnh bất công, dẫn tới hiện tượng những người dân phải mang can xăng đến trụ sở chính quyền địa phương đe dọa tự thiêu… thì từ năm 2000 đến nay, hình ảnh tuẫn tiết đó đã xảy ra không ít lần, không ít nơi, bùng cháy những cái chết theo đúng nghĩa đen.

RFI: Thưa anh, nguyên nhân có phải từ thái độ vô cảm của chính quyền?

Trái ngược với hậu quả khốc hại của dân oan, các nhóm lợi ích bất động sản và nhóm thân hữu chính trị vẫn chìm sâu trong vũng lầy của những từ ngữ lóng lánh nghĩa bóng. Mọi thông tin về những câu chuyện tang thương của dân mất đất luôn bị các cấp chính quyền tìm cách bưng bít.

Cho đến năm 2009, số đại gia địa ốc đã tăng vọt ở Việt Nam, rất đồng cảm với những gì đã hiện hình ở quốc gia có đường biên giới chung hòa mang tên “Mười sáu chữ vàng”.

Trước khi nổ ra cơn cùng tất biến của Đặng Ngọc Viết ở Thái Bình, các cơ quan chính quyền luôn giao đãi bằng khẩu ngữ “là bạn của dân” đã có quá đủ thời gian để rút ra một bài học đắt đỏ từ câu chuyện Cống Rộc, Tiên Lãng, Hải Phòng, nơi mà một con người được xem là viết hoa như Đoàn Văn Vươn cùng gia đình đã làm nên dấu ấn phản kháng đầu tiên bằng vũ khí sát thương đối với lực lượng công vụ, cũng liên quan mật thiết đến việc thu hồi đất và bóng dáng của một nhóm lợi ích lẩn khuất phía sau việc cướp đất của nông dân.

Chỉ có điều, sự đau đớn của người dân luôn bị nhân gấp đôi: một do thái độ hành xử vô lối của chính quyền, và tiếp theo là những kẻ được xem là “công bộc”, ngoài thói quen vun vén tài sản trên máu xương đồng bào, đã không tích góp được bất kỳ kinh nghiệm xương máu nào trong cuộc đối mặt và cả đối đầu với dân chúng.

Nhìn rộng hơn và trượt qua thời gian từ rất nhiều năm, lịch sử đã nhận ra bài học lớn nhất là một cơ chế độc trị đã không ngộ được bất cứ bài học nào từ lịch sử về việc cai trị các công dân của mình.

Hai ngàn bài viết phẫn uất sôi sục trên phần lớn báo chí trong nước về số phận “người nông dân nổi dậy” ở Hải Phòng vào đầu năm 2012 đã chẳng mấy có tác dụng, bởi chính thái độ coi thường dân của rất nhiều quan chức vô cảm. Thậm chí, viên đại tá có tên là Đỗ Hữu Ca – giám đốc Công an Hải Phòng và là tác giả của giai thoại được xem là “trận đánh đẹp” vào gia đình Đoàn Văn Vươn, còn được phong hàm tướng sau sự việc đau buồn đó.

RFI: Như vậy là chính quyền vẫn chưa rút ra được bài học sau vụ Đoàn Văn Vươn?

Một khi không có ai rút ra được bài học nào từ lịch sử, lịch sử sẽ bắt một ai đó phải trả giá. Lần đầu tiên, sự phản kháng của dân chúng, dù mới chỉ biểu hiện ở vai trò một cá nhân, đã vượt quá mọi giới hạn của kìm nén và sợ hãi. Lần đầu tiên, thói vô cảm quan chức đã phải một cái giá rất đắt đỏ, như một món hàng xôi thịt ngoài chợ.

Mối liên hệ trực tiếp giữa cơ quan giải phóng mặt bằng, mà thực chất là đội thi hành cưỡng chế của Thái Bình, với gia đình hung thủ Đặng Ngọc Viết có thể đã đủ cấu thành để làm nên mối xung khắc hết thuốc chữa. Từ nhiều năm qua, người dân lành ở nhiều địa phương đã biến thành dân oan và kéo nhau rồng rắn đi khiếu tố ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh về sự bất nhẫn có độ chênh lệch từ 10-20 lần giữa giá đền bù đất với giá bán buôn chính lô đất đó, về số phận bị bỏ mặc và còn được mô tả “không khác con vật” của lớp dân oan, và cả về điều tiếng bầm dập từ chuyện một quan chức của Quốc hội đòi đánh thuế người dân đi khiếu kiện, đến người đứng đầu cơ quan Tổng thanh tra chính phủ đòi cưỡng chế chính những người đi đòi quyền lợi chính đáng về đất đai…

Tất cả đã phải trả giá, trả giá cho ngày hôm nay và gần như không thể khác cho cả tương lai những tháng năm sắp tới, đối với sự vô cảm quan chức mà xã hội đã lên án quá dày dặn nhưng lại chưa một quan chức trơ lì nào bị kết án.

RFI: Theo anh thì liệu có nguy cơ hỗn loạn trong xã hội hay không?

Không thể nói khác hơn, một quy luật tâm lý xã hội đã hình thành: não trạng và cách hành xử vô cảm đến mức bất chấp của giới quan chức đã tiếp biến với hành động phản kháng mang tính bất chấp không kém của dân chúng. Mười sáu năm trước, người dân Thái Bình nổi dậy nhưng chỉ đến mức bắt giữ cán bộ chính quyền trong một thời gian ngắn, nhưng đến năm 2012 gia đình Đoàn Văn Vươn đã chống trả quyết liệt lực lượng cưỡng chế đất đai tuy chỉ bằng tư thế thụ động, còn nay tâm thế sợ hãi đã biến thành hành vi trả thù chủ động của người dân. Tín hiệu hỗn loạn xã hội cũng từ đó mà nảy nở, mà bùng phát.

Khó có thể khác hơn, nạn thu hồi đất vô lối và thói cai trị dân chúng bằng bạo lực ở nhiều địa phương đang dẫn đến triển vọng bùng nổ phản kháng của nông dân. Không còn là những phản ứng tích tụ ngấm ngầm nhưng không dám bộc phát như những năm trước, giờ đây hành động phản kháng đã có dấu hiệu vượt qua tâm lý sợ sệt và lằn ranh pháp luật, chĩa thẳng mũi công kích vào những cán bộ chính quyền cận kề nhất. Đó cũng là nhận thức “hồi tố” – một dạng tâm lý rất nguy hiểm trong lịch sử xã hội Việt Nam mà không ít lần đã dẫn đến những xáo trộn tự phát và kinh khủng, dẫn tới những cuộc khởi nghĩa có tổ chức của nông dân ở khắp mọi nơi.

Nhà nước Việt Nam đương đại đã từ lâu bỏ quên lời dạy “lấy dân làm gốc” của Nguyễn Trãi. Trong lúc nhiều quan chức cao cấp vẫn cố tỏ ra bình thản trong các cuộc họp mà chẳng mấy ai dám chịu trách nhiệm cá nhân để quyết định những vấn đề “nhạy cảm”, tâm lý hồi tố tự phát nơi dân nghèo lại đang có chiều hướng phát lộ ngay trước mắt ở một số vùng nông thôn miền Bắc và miền Trung - những nơi mang sắc thái dã man nhất của các nhóm lợi ích và hành xử mang tính côn đồ và lưu manh nhất của một số viên chức chính quyền.

Cho dù sắp tới các cơ quan tuyên giáo của nhà nước có quy kết hành vi của hung thủ Đặng Ngọc Viết là “khủng bố”, xã hội sẽ không thể nào tránh khỏi câu hỏi liệu có xảy ra một cơn sóng phản kháng tự phát và dữ dội của dân oan nhắm vào các lực lượng thường liên quan ích lợi nhất với các quyền lợi dự án, kế hoạch bồi thường, cưỡng chế và giải tỏa đất đai tại các vùng nhạy cảm như Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Giang… và tất nhiên không thể loại trừ Nghệ An – nơi vừa nổ ra vụ xung đột không khoan nhượng giữa cộng đồng Kitô hữu với chính quyền và cảnh sát vũ trang…


RFI: Xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng về cuộc trao đổi hôm nay.

31 tháng 8, 2013

826. Hoàng Xuân Phú: Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp

cũng chỉ là con dân
mà xưng là thiên tử

Có lẽ không điều khoản nào của Hiến pháp 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 lại được bàn cãi nhiều bằng Điều 4. Một bên thì cương quyết bảo lưu, bên kia lại muốn loại bỏ nó ra khỏi Hiến pháp. Nội dung mà hai bên thường đề cập là duy trì hay không việc hiến định quyền lãnh đạo đương nhiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Nhưng đấy mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Để tìm hiểu thêm phần tiềm ẩn, ta hãy đọc lại Điều 4 Hiến pháp 1992 và cùng nhau suy ngẫm:

“Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

“Đội tiên phong” là gì vậy? Nghe mãi đâm quen, thấy oai oai, nhưng thực ra nó là cái gì? Trong ngôn ngữ thông dụng, cái từ này thường chỉ “đạo quân ở vị trí đi đầu để ra mặt trận”. Thời xa xưa, khi còn đánh nhau bằng cơ bắp và vũ khí thô sơ, cả đạo quân ngàn vạn người cũng chỉ trông cậy vào võ nghệ của mấy vị tướng đầu quân, thì cả tướng lẫn quân của “đội tiên phong” cũng chỉ là thuộc hạ để nhà vua sai bảo. Ngày nay, lãnh đạo cao nhất lại càng cố thủ ở hậu phương, chứ không “tiên phong” ra mặt trận. Nếu vậy thì oai cái nỗi gì, mà lại gán cho đảng cái cương vị hạng hai, hạng ba, mà đôi lúc còn bị dùng để “thí tốt”?

Nếu cố gán cho từ “đội tiên phong” nội dung “thành phần ưu tú, đóng vai trò đầu đàn, đưa đường chỉ lối”, thì lại nảy sinh câu hỏi: Một đảng mà đa số đảng viên và hầu hết lãnh đạo cấp cao đều không phải là công nhân, thì có thể coi là “đội tiên phong của giai cấp công nhân” hay không? Người của giai cấp công nhân – vốn được lý luận chính thống của ĐCSVN ngợi ca là ưu tú và cách mạng nhất – đi đâu cả, mà lại để cho cái hội thuộc giai cấp hay tầng lớp kém tiến bộ hơn xông vào choán hết “đội tiên phong” của mình?

Không chỉ được mệnh danh là “đội tiên phong”, ĐCSVN còn được coi là “đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”Tại sao lại ghi những thứ đó vào Hiến pháp? Hiến pháp là văn bản pháp lý gốc của cả Nước, của toàn bộ Nhân dân, để hiến định các quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất, chứ đâu phải là cuốn sử ca của riêng ĐCSVN để ghi vào đó những lời tự phụ?

Vấn đề đáng bàn hơn là: Liệu những khẳng định kiểu đó có đúng hay không? Dù hào phóng giả định rằng hiện tại chúng đang đúng, thì lấy gì để đảm bảo rằng trong tương lai chúng vẫn còn đúng? Đã là Hiến pháp thì phải có hiệu lực lâu dài. Cho dù không tin vào sức sống của sản phẩm do mình tạo ra, thì chắc hẳn các tác giả Hiến pháp cũng hy vọng rằng nó sẽ tồn tại được vài chục năm. Vậy thì tại sao lại tùy tiện khẳng định hay liều lĩnh bảo lãnh phẩm giá của cả đội ngũ cầm quyền mấy mươi năm sau, những người mà các tác giả Hiến pháp không thể đoán trước sẽ là ai, sẽ cầm quyền thế nào và trong hoàn cảnh ra sao?

Cho đến nay, biết bao sự kiện bí ẩn và hành xử khó hiểu đã và đang xảy ra, đặc biệt là trong quan hệ đối với nhà cầm quyền Trung Quốc, kết hợp với tệ nạn tham nhũng và cướp đất tràn lan, khiến nhiều người phải đặt ra câu hỏi: ĐCSVN (nói chính xác hơn là lãnh đạo của ĐCSVN) có còn trung thành với quyền lợi của Nhân dân và Dân tộc nữa hay không? Đối với không ít người thì câu hỏi cũng chính là câu trả lời. Nếu muốn, giới cầm quyền có thể thông qua hành động thực tế để xóa bỏ nghi ngờ và chứng minh điều ngược lại. Thế nhưng, tại sao lại lạm dụng Hiến pháp để “công chứng” cho cái phẩm hạnh đang bị nghi vấn, và bắt Nhân dân phải mặc nhiên thừa nhận lòng trung thành của giới cầm quyền hôm nay và cả mai sau?

Giả sử ĐCSVN luôn thực sự là “đội tiên phong…” và “đại biểu trung thành…”, thì điều đó đã đủ để Nhân dân trao quyền “lãnh đạo Nhà nước và xã hội” hay chưa? Vẫn còn có nhiều “đại biểu trung thành” khác, thì tại sao lại chỉ trao quyền lãnh đạo cho một đại biểu duy nhất? Hơn nữa, giữa quyền lãnh đạo và tính tiên phong cộng với lòng trung thành là một khoảng cách xa vời, hai cái đó không nhất thiết là hệ quả của nhau. Chẳng hạn như Cún con, khi ra đường thì hay lon ton lên trước (nghĩa là rất “tiên phong”), và ít ai trung thành với chủ hơn Cún, nhưng chẳng vì thế mà Cún lại được chủ trao cho quyền lãnh đạo… gia đình. Rõ ràng, hai mệnh đề nhầm chỗ đó không đủ để biện minh cho quyền lãnh đạo đương nhiên của ĐCSVN. Ngược lại, cái “hư hư thực thực”“hư” đến mức bất chấp cả “thực”, đã làm suy giảm tính nghiêm túc và tính hợp lý của Hiến pháp. Vậy thì cưỡng nạp những mệnh đề vu vơ ấy vào Hiến pháp để làm gì?
 *
*      *
Nếu quan niệm rằng hai đặc tính “đội tiên phong…” và “đại biểu trung thành…” là đòi hỏi, là điều kiện cần cho quyền “lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, thì Điều 4 cần được hiệu chỉnh cho chuẩn xác về mặt lô-gíc, chẳng hạn như sau:

“Đảng cộng sản Việt Nam phải là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, … thì mới là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Hoặc hoán vị đoạn cuối lên đầu và dùng chữ “để” thay cho hai chữ “thì mới”:

Để là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam phải là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc…”

Đó là hai phương án hiệu chỉnh lô-gíc kinh tế nhất, chỉ thêm ba hoặc bốn chữ và giữ nguyên các thành phần khác. Kể cả trong trường hợp thừa nhận quyền lãnh đạo của ĐCSVN như một thứ đương nhiên, bất chấp hiện trạng của đảng, thì cũng nên viết lại như sau:

“Đảng cộng sản Việt Nam, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng phải là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”.

Dù chọn phương án nào thì cũng cần thêm chữ phải, để nhấn mạnh rằng: Đó là đòi hỏi mang tính pháp lý mà đảng cầm quyền phải thực hiện. Liệu giới cầm quyền có muốn viết như vậy hay không? Chắc là không! Vậy thì nội dung về “đội tiên phong…” và “đại biểu trung thành…” trong Điều 4 không phải là đòi hỏi, mà mang ý nghĩa ”thừa nhận một thực trạng đã, đang và sẽ mãi tồn tại”, tức là một hình thức “công chứng bất chấp hiện trạng của nguyên bản”.

Vấn đề tương tự được đặt ra với khoản tiếp theo của Điều 4, viết rằng:

“Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Đây có phải là một yêu cầu, một đòi hỏi hay không? Nếu là đòi hỏi thì cần bổ sung một chữ phải“ như sau:

“Mọi tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Câu hỏi nảy sinh là: Tại sao lại thiếu chữ “phải” tại vị trí quan trọng như vậy? Có phải do vô tình hay không?

Muốn hiểu được ý tứ của các tác giả, hãy điểm mặt 39 chữ phải trong Hiến pháp 1992 để nhận ra rằng: Từ phải là một trong những thuật ngữ đặc trưng trong Hiến pháp, thường được dùng để chỉ những điều bắt buộc phải thực hiện. Ví dụ:

Điều 51 … Công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội…”

Điều 76  Công dân phải trung thành với Tổ quốc…”

Điều 77 … Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”

Điều 100  Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu…”

Điều 122  Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn… Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân trong thời hạn do luật định…”

Tại sao không viết tương tự, mà lại tránh dùng chữ phải trong Điều 4? Nếu quan niệm rằng chỉ cần viết
“Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là đã hàm chứa chữ phải, do đó có thể lược bỏ nó, thì sao không bỏ nốt chữ phải trong những trường hợp cũng “đã hàm chứa” tương tự? Chẳng hạn, sao không bỏ chữ phải trong hai điều khoản sau đây:

Điều 115  … Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số”.

Điều 124  … Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, Uỷ ban nhân dân phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số…”

Để hiểu hết thâm ý chứa trong Điều 4, nên so sánh nó với điều khoản sau:

Điều 12  … Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật…”

Vâng, không chỉ “các… tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân”, mà cả “các cơ quan Nhà nước” đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”. Nhưng ĐCSVN và các tổ chức của đảng thì không bị liệt kê trong Điều 12, tức là chúng không nằm trong diện phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”.

Điều 4 chỉ viết là: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Khi đã ngăn chặn việc ban hành luật về các đảng chính trị hay luật dành riêng cho ĐCSVN, thì chẳng hề tồn tại “khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” nào có thể khống chế và ràng buộc đảng. Vậy là ĐCSVN được mặc sức tung hoành. Hơn nữa, giả sử có ràng buộc pháp luật nào đó liên quan, thì ĐCSVN cũng không nhất thiết phải tuân theo, bởi vì câu hiến định “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” không nhất thiết là một đòi hỏi, mà ngược lại, rất có thế là một hình thức“công chứng bất chấp hiện trạng của nguyên bản”, cũng tương tự như việc “công chứng” cho đặc tính “đội tiên phong…”và “đại biểu trung thành…” mà thôi.

Hẳn là đạo diễn của Hiến pháp 1992 đã cân nhắc rất kỹ lưỡng, và cố tình không cho “diễn viên” tên phải lạc vào “màn kịch” Điều 4, để tạo ra một “hoạt cảnh thực thực hư hư”“nói dzậy mà không phải dzậy”. Cái tinh vi ấy được kế thừa trọn vẹn trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 2 (được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 02/01/2013) và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 3 (được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XIII, ngày 17/05/2013). Chưa thỏa mãn với đặc quyền vô biên đã có, người ta đã sửa câu Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” trong Hiến pháp 1992 thành Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Hạ cấp từ chữ “Mọi” xuống chữ “Các”, phải chăng là cố chừa ra thế lực bất khả xâm phạm? Tuy trong phương án sửa đổi có bổ sung thêm đối tượng “đảng viên”, nhưng đó là “đảng viên thường”. Còn các vị lãnh đạo đảng là “siêu đảng viên”, và cá nhân họ cũng không phải là “tổ chức”, vì vậy có thể hoàn toàn tự do “ngoài vòng Hiến pháp và pháp luật”.

Trong tham luận trình bày tại phiên họp Quốc hội vào buổi sáng ngày 16/11/2012, Luật sư Trương Trọng Nghĩa (Đại biểu Quốc hội khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam) đã phân tích và kiến nghị như sau:

“Về Điều 4, hiện nay về Đảng thì chúng ta có 3 chủ thể: Thứ nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam; Thứ hai là các tổ chức của Đảng; Thứ ba là đảng viên. Nhưng khi thiết kế Điều 4 thì chúng ta bỏ quên chủ thể quan trọng nhất là Đảng cho nên chúng ta chỉ quy định các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động theo khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều 4 tôi chỉ xin thêm một từ ở đằng trước, tức là ‘Đảng, các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”.

Đề nghị của Luật sư Trương Trọng Nghĩa là rất hợp lý, để loại trừ khả năng biện hộ rằng: “Đảng không phải là một tổ chức của Đảng, nên Đảng không phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Nếu thực tâm muốn tôn trọng“khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, thì chẳng tiếc gì mà không thêm chữ “Đảng” vào đầu câu như ông Nghĩa đề xuất. Thế nhưng, đề nghị ấy đã không được chấp nhận. Phải chăng việc khước từ đó càng thể hiện rõ hơn động cơ của đạo diễn và bản chất của Điều 4?

Một nét mới của Điều 4 trong phiên bản 2 và phiên bản 3 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là khoản sau đây được chèn thêm vào giữa:
“Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.

Câu này đã khiến một số người hâm mộ đảng hân hoan ca ngợi. Nhưng thực ra có gì là mới ở đây hay không? Thế nào là “gắn bó mật thiết”? “Gắn bó” như hiện nay đã đủ hay đã quá “mật thiết” hay chưa? “Phục vụ nhân dân” thế nào thì bấy lâu đã rõ, xin kiếu, xin kiếu! “Chịu sự giám sát” hay “đành chịu sự giám sát”? Nhân dân “giám sát” thế nào, khi mọi chuyện tày đình đều diễn ra ở những nơi kín cổng cao tường, được súng ống bảo vệ nghiêm ngặt? Giả sử bằng cách nào đó mà biết được chút chuyện “thâm cung”, thì đành ngậm miệng, hay nông nổi phát ngôn, để rồi có thể bị khép vào “tội cố ý” hay “tội vô tình làm lộ bí mật nhà nước” (Điều 263 và Điều 264 Bộ luật hình sự)? Và “giám sát” để làm gì? Nếu được phép “giám sát”, nhưng khi phát hiện ra điều sai trái thì cũng chỉ có thể bó tay bất lực và thêm ấm ức, thì “quyền giám sát đảng” có hơn gì so với “quyền được tò mò, nhòm ngó chuyện riêng của nhà hàng xóm”? Thế nào là “chịu trách nhiệm trước nhân dân”? Ăn chán, phá chán cũng chỉ cần buông một câu “xin chịu trách nhiệm” là xong, vậy thì tội gì mà không ăn, không phá? Toàn là mỹ từ chung chung, vô định, phù hợp với mục đích tuyên huấn, nhằm mê hoặc và ru ngủ người đọc, chứ không thể dùng để diễn đạt các ràng buộc pháp lý.

Những băn khoăn vừa kể chỉ có ý nghĩa khi khoản mới bổ sung vào Điều 4 là đòi hỏi mà đảng cầm quyền phải thực hiện. Nhưng lấy gì để đảm bảo rằng đó thực sự là đòi hỏi, chứ không phải là tái diễn hình thức “công chứng bất chấp hiện trạng của nguyên bản”? Nếu quả là đòi hỏi, thì cần thêm bốn chữ phải như sau:
“Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phải phục vụ nhân dân, phải chịu sự giám sát của nhân dân, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Hoặc ít nhất cũng bổ sung một chữ phải để áp chung cho cả bốn nghĩa vụ:
“Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.

Như vậy không phải là quá máy móc, mà cũng chỉ hiến định giống như hai điều khoản sau đây của Hiến pháp 1992, cũng về quan hệ với Nhân dân:

Điều 8  Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân…”

Điều 97  … Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri…”

Quan sát kỹ sẽ nhận ra sự khác nhau “tinh tế” giữa yêu cầu đối với Nhà nước trong Hiến pháp 1992 và yêu cầu đối với ĐCSVN trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: Các cơ quan Nhà nước ”phải tôn trọng nhân dân” và “lắng nghe ý kiến… của nhân dân”, còn đảng thì không phải ”tôn trọng nhân dân” và cũng không phải ”lắng nghe…nhân dân”; các cơ quan Nhà nước phải tận tụy phục vụ nhân dân”, còn đảng thì cũng “phục vụ nhân dân” nhưng không cần phải ”tận tụy. Thế cũng đã là tiến bộ vượt bậc rồi, bởi Hiến pháp 1992 còn không hề nhắc đến quan hệ của đảng đối với Nhân dân.

Có lẽ để “cởi trói” cho Nhà nước, nên “Các cơ quan Nhà nước” được giải phóng khỏi Điều 8 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 2:

“Cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân…”
Sau đó, không hiểu do sức ép nào mà người ta lại đành chịu để cho “Các cơ quan Nhà nước” tái hiện trong Điều 8 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 3:

“Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân…”
*
*      *
Trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 2 và phiên bản 3, số lần xuất hiện của chữ phải ít hơn so với trong Hiến pháp 1992. Vì sao như vậy? Một số chữ phải biến tướng thành thuật ngữ khác, như “có trách nhiệm”“có nghĩa vụ” Chẳng hạn, đoạn
“công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội“ tại Điều 51 Hiến pháp 1992 biến thành đoạn “Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội” tại Điều 20 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 2. Một số chữ phải thì biến mất hẳn, vì một số điều khoản được bãi bỏ. Ví dụ, quy định “Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu…” tại Điều 100 Hiến pháp 1992 biến khỏi cả hai phiên bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. (Chả trách mà một số đại biểu Quốc hội say sưa ca ngợi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp).

Có một ưu ái đặc biệt mà “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” dành cho Dân trong Hiến pháp 1992, đó là“vinh danh” Dân hai lần trong mối quan hệ với pháp luật:

Điều 12  … mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật…”

Điều 79  Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật…”
Các tác giả Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 2 đã kết hợp nhuần nhuyễn tính kế thừa với tính sáng tạo, và thu được kết quả tương ứng như sau:

Điều 8  … cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật…”

Điều 49  Công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật…”

Trong Điều 8, từ “cá nhân” được dùng để thay thế cho từ “mọi công dân” ở Điều 12 Hiến pháp 1992. Nghĩa là Dân vẫn được “vinh danh” hai lần: Một lần dưới danh nghĩa “công dân” và một lần dưới danh nghĩa “cá nhân”“Chu đáo” với Dân đến thế là cùng.

Trong khi đó, họ lại “sơ suất” đánh mất hai chữ “Nhà nước” trong đòi hỏi phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật”. Quy định

Điều 12  … Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật…” trong Hiến pháp 1992 được sửa thành

Điều 8 
1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật…

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật…” trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 2. Khoản 1 Điều 8 học theo phong cách của Điều 4 Hiến pháp 1992, không hề sử dụng từ phải hay thuật ngữ tương đương, nên cũng không rõ đó là đòi hỏi hay ghi nhận (tức là ”công chứng”). Nếu đó là đòi hỏi thì Nhà nước cũng chỉ cần “hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật”. “Theo” được bao nhiêu thì “theo”, chứ không bắt buộc phải nghiêm chỉnh chấp hành…”. Nghĩa vụ phải nghiêm chỉnh chấp hành…” trong Khoản 3 Điều 8 chỉ áp vào “Cơ quan, tổ chức” chung chung, mà thường chỉ được hiểu là “cấp dưới”. Rồi đến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 3Điều 8 chỉ giữ lại cái Khoản 1 mập mờ, còn Khoản 3 thì hoàn toàn biến mất, do đó cả “Cơ quan, tổ chức” chung chung cũng không còn bị đòi hỏi phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật” nữa.

Chưa hết, cái quy định

“Ủy ban nhân dân … chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân”

tại Điều 123 Hiến pháp 1992 cũng bị xóa khỏi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 2. Có lẽ họ đã kịp nhận ra như vậy cũng không ổn lắm: Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân thì không thành vấn đề, nhưng nếu bỏ cả quy định “chấp hành… các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên”, ngộ nhỡ địa phương không chịu nghe theo trung ương nữa thì sao? Cho nên, trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 3, họ đã đưa ra hai phương án: Với phương án 1 thì Ủy ban nhân dân vẫn không bị nhắc nhở là phải chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật…”; phương án 2 khôi phục nguyên văn quy định của Điều 123 Hiến pháp 1992. Nếu phương án 1 được thông qua, thì không chỉ các cơ quan của đảng, mà cả các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều được “giải phóng” khỏi trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật”. Còn nếu phương án 2 được thông qua thì chỉ Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương phải “chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật” mà thôi. Dù bất cứ phương án nào của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phiên bản 3 được chọn, thì công dân cũng vẫn được “chăm sóc chu đáo”, không bị bỏ sót, bởi:

Điều 49  Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật…”

Hóa ra, nghĩa vụ Nhà nước chỉ nhất thời, nghĩa vụ Dân mới vạn đại.
*
*      *
Để hiểu rõ hơn Điều 4 Hiến pháp 1992 và các phiên bản biến dạng của nó, ta đã lan man sang một số điều khoản khác của Hiến pháp. Đấy không phải là lạc đề, mà để có được tầm quan sát bao quát hơn, nhằm thấu hiểu hơn bản chất và ý nghĩa của Điều 4. Phải so sánh với cách cư xử mà họ dành cho Dân, thì mới nhận ra mức độ ưu ái mà thế lực cầm quyền dành riêng cho mình. Thế mới biết, trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa đang tồn tại trên đất Việt, thì nguyên lý“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52 Hiến pháp 1992) cần được hiểu như thế nào. Vâng, “mọi công dân đều bình đẳng…”, nhưng giới cầm quyền còn “bình đẳng hơn”, và lãnh đạo cấp cao nhất thì tất nhiên phải được “bình đẳng nhất”. Có lẽ vì cái không gian dân chủ xã hội chủ nghĩa quá chật hẹp, nên giới cầm quyền phải đứng ngoài khuôn khổ pháp luật, phải đứng trên hiến pháp, để… “nhường chỗ cho Dân”.

Các điều khoản đã trích dẫn ở trên cho thấy: Chỗ nào thấy cần thì các tác giả Hiến pháp đều nhớ dùng từ phải hoặc những từ đồng nghĩa để nhấn mạnh sự “đòi hỏi”. Họ chỉ cố tình ”quên” dùng từ ”phải“ ở Điều 4 mà thôi. Nhờ thế, Hiến pháp trao cho ĐCSVN quyền lực lãnh đạo tối cao vô biên, nhưng lại không đòi hỏi ĐCSVN phải thực hiện bất cứ điều gì, kể cả việc “nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”, như quy định ở Điều 12 đối với các thành phần còn lại của xã hội. Hơn nữa, bất luận thực tế tốt xấu ra sao, thì ĐCSVN cũng được công chứng” trong Hiến pháp là đã ”tiên phong…”, đã ”trung thành…”, đã ”hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, và đã ”gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.

Lối viết lấp lửng tạo cho người đọc ảo tưởng rằng lãnh đạo đảng đã tự giác đặt mình vào khuôn phép, nhưng vẫn đảm bảo cho “đấng tối cao” chẳng phải chịu bất kỳ ràng buộc pháp lý nào cả, và bất kể thế nào thì cũng vẫn được vinh danh.

Liệu đó có phải là thâm ý của những người đã ấn định nội dung Điều 4 trong Hiến pháp 1992 và hai phiên bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp hay không?

Điều 4 như vậy có hợp lý không?

Viết ra và tung hô một điều như vậy có phải là tử tế không?
Chúng ta có thể nhắm mắt mà chấp nhận một điều hiến định như thế hay không?

H.X.P.
29/08/2013 – Mừng Cháu tròn một tuổi
Cùng tác giả: