Nhãn

Hiển thị các bài đăng có nhãn SÀNG KHÔN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SÀNG KHÔN. Hiển thị tất cả bài đăng

13 tháng 5, 2017

871. CHÚA TRỜI VÀ CON ĐƯỜNG ĐÁY BIỂN


Xuân Dương
http://giaoduc.net.vn
Có một chủng tộc khiến nhiều người ngưỡng mộ, nhưng cũng không ít người ghen ghét vì sự thông minh là người Do Thái, dân tộc này có một ngày lễ trọng trong năm là “Lễ Quá hải” còn gọi là Lễ Vượt biển (Jewish Passove) [1]. “Lễ Quá hải” bắt nguồn từ câu chuyện lịch sử được đề cập chi tiết trong Kinh Thánh – phần Cựu Ước.

Chuyện kể về hành trình chạy trốn khỏi Ai Cập của người Do Thái cổ đại đã được Chúa giúp đỡ bằng cách tách đôi biển cả thành một con đường cho dòng người chân trần, đói khát băng qua.

Khi quân Ai Cập đuổi đến, Chúa khép biển trở lại khiến vô số quân lính Ai Cập chết đuối.
 

Chúa trời và con đường đáy biển (Ảnh: kienthuc.net.vn)

Người Do Thái được Chúa ban cho mảnh đất chỉ có cát trắng và nắng nóng nhưng họ vô cùng biết ơn bởi họ có được điều quý giá nhất là Tự do.

Tự do chắp đôi cánh cho Sáng tạo vì thế ngày nay dù là một quốc gia nhỏ bé chưa đến 20 triệu người, Do Thái vẫn là một cường quốc trên bản đồ chính trị toàn cầu.

Nếu người Do Thái được Chúa ban cho rừng vàng, biển bạc, nhưng họ loay hoay tìm mãi mà vẫn chưa hiểu ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ “Tự do”, liệu Sáng tạo có được chắp thêm đôi cánh?

Ngay cả khi đã có đôi cánh, nếu không gian của Sáng tạo lại là chiếc lồng “Tự do” được hút chân không thì dù kiên trì đến mấy cũng không thể cất cánh.

Muốn giang rộng đôi cánh, phải có bầu trời.

Có người cho rằng, Chúa trời không công bằng với chính những đứa con của mình, Người cứu vớt đứa con Do Thái mà lại hy sinh đứa con Ai Cập.

Tuy thế, không thể nói Chúa đã sai lầm, bởi Người đã sớm nhận thấy sự lụi tàn của đế chế Ai Cập, một trong số ít nền văn minh rực rỡ nhất địa cầu.

Sự tàn bạo của các Pharaoh trong cai trị dân chúng, sự ngạo mạn trong việc xây Kim tự tháp hòng đạt đến sự bất tử là con đường tự nhiên dẫn đến diệt vong.

Thế nên, hy sinh đứa con ngạo ngược, chuyên chế để giữ lại những đứa thông minh mới chính là sự sáng láng của Chúa.

Những đứa con được Chúa cứu vớt đã sản sinh cho nhân loại khoảng 160 nhà khoa học được giải Nobel, chiếm 20% tổng số người được giải toàn cầu.

Nơi trần thế này chẳng hiếm trường hợp vua chúa, quan lại vì những đứa con riêng của mình mà hy sinh cả bàn dân thiên hạ, vì phe nhóm của mình mà dửng dưng nhìn dân lành sống mòn trong đói khổ, bệnh tật, nhìn đất nước bị ngoại bang dày xéo…

Có một thành phố, nơi khí thiêng hội tụ, nơi “tinh hoa” chen chúc, khi dân chúng kêu gọi đổi thay, người đứng đầu bảo “không vội được đâu”.

“Không vội” nghĩa là cứ chờ, là giữ nguyên như cũ, không vội là dẫu có sai thì cũng chưa cần sửa?

Điều nguy hiểm nhất của “không vội” là không cần phát triển, là chấp nhận trở thành kẻ đi sau, là biến đất nước thành bãi rác cho kẻ đi trước xả thải?

Quan điểm “không vội” không biết từ bao giờ đã thành phương châm xử thế của cả một hệ thống. Rừng bị tàn phá: không vội; sông cạn trơ đáy: không vội; dân bị tù oan: không vội; thực phẩm bẩn lan tràn: không vội…

Bộ phim truyền hình Đảo Đười Ươi (Orangutan Island) do kênh truyền hình Khám phá thế giới (Discovery World HD) trình chiếu mô tả hoạt động tại một Trung tâm cứu hộ đười ươi.

Hàng trăm cá thể đười ươi mồ côi được cứu hộ về đây chăm sóc, khi khỏe mạnh chúng được thả lên một hòn đảo, trở về cuộc sống hoang dã.

Điều lo lắng nhất của nhân viên Trung tâm cứu hộ là bầy đười ươi khi thả về rừng bị mất đi hầu hết bản năng tự nhiên.

Chúng không biết bẻ cành cây làm chỗ ngủ, không chịu leo cây mà đi trên mặt đất, nhiều con ngủ ở gốc cây, bụi cỏ, chúng chờ người mang thức ăn tới, tranh giành nhau khiến phần lớn thức ăn rơi vãi xuống nước…

Có một nơi được khẳng định là tiến hóa hơn, văn minh hơn xã hội đười ươi, nhưng một bộ phận không nhỏ cá thể “không phải đười ươi” ở đó dù không cùng loài song lại giống lũ đười ươi Orangutan Island đến kinh ngạc.

Sự giống nhau đầu tiên phải kể đến là bẩn, đặc biệt là ăn bẩn, ăn không chừa một thứ gì, không chỉ “ăn” các thứ có thể nhai mà còn “ăn” cả các thứ không thể nuốt, tỷ như “danh hiệu anh hùng”.

Sự giống tiếp theo là “gãi”, đười ươi ngồi đâu cũng gãi, bạ chỗ nào gãi chỗ ấy, đằng này “gãi” là một biện pháp chống “dị nghị” nên giới hạn chỉ được phép gãi từ vai trở xuống…

Mã di truyền của những cá thể “không phải đười ươi” là bắt nạt kẻ yếu, khúm núm trước kẻ mạnh, nếu “to xác” một tí thì tìm cách tranh giành địa vị con đầu đàn.

Được nuôi dưỡng bên trong những hàng rào sắt, khi tự do cũng là lúc lũ đười ươi Orangutan Island mất đi khả năng sáng tạo mà thiên nhiên ban cho tổ tiên của chúng.

Dẫu có dạy dỗ mãi thì chúng cũng không thấm vào đầu chút gì, ngoại trừ khả năng bắt chước.

Điều này có phải cũng đúng với xã hội loài người?

Trong một Vương quốc hùng mạnh, vị Quân vương anh minh không thể có đám cận thần dốt nát. Có thể có những kẻ tham lam, quỷ quyệt nhưng chắc chắn đó đều không phải là người đần độn.

Nếu trong đám cận thần được Quân vương tuyển chọn có quá nhiều người thiếu trí tuệ, thừa lòng tham thì liệu Quân vương có phải là bậc tài cao, đức trọng?

Một trưởng “cấp Cục” gọi chủ tư bản doanh nghiệp nước ngoài là “đồng chí”? Làm đến trưởng của một Cục, người ta chắc chắn phải được dạy dỗ đến nơi đến chốn về lý luận.

Bộ “sưu tập” bằng cấp chắc phải là một tập dày gồm bằng đại học (mà cũng có thể là thạc sĩ hoặc tiến sĩ) mấy bằng lý luận sơ, trung, cao... Không biết khi học người ta có dạy cho cá thể ấy “đồng chí” nghĩa là gì?

Cũng có thể, trên con đường tiến hóa, cá thể ấy có cách định nghĩa “đồng chí” của riêng mình, nếu đã đi trước thời đại như vậy, ngồi ở vị trí ấy để làm gì?

Còn nếu vẫn là thành viên “nhóm không vội” nghĩa là không đi trước thời đại, vì sao “được dạy dỗ đến nơi đến chốn” mà lại không thấm được chút gì vào đầu, lại xem kẻ bóc lột đồng bào mình là “đồng chí”?

Một “cấp Sở” khi được thông báo, rằng hòn đảo vốn được mệnh danh là “thiên đường chim hải âu” nay không còn bóng chim nào đã trả lời “chim chết là việc chim chết, không liên quan gì đến tôi”? [2].

Thế nhưng lại có chuyện một cán bộ khác bị mất ba con chim, thế là khởi tố, thế là bắt giam mấy kẻ ngỗ ngược dám cả gan trộm chim chào mào quan Sở .

“Chim trời” vốn không phải của Sở nên có chết cũng chẳng liên quan gì, “chim Sở” dù chẳng phải  “của Trời” nhưng dẫu sao vẫn là tầm … “chim Sở”.

Chúa cho dân Do Thái mảnh đất khô cằn, chỉ có nắng nóng và cát bụi.

Người tin dân Do Thái sẽ sống tốt vì Người biết “Kẻ dẫn dắt” trong đám con dân Do Thái đã sớm nhận thấy hạnh phúc trong nước biển và ánh sáng, ánh sáng trở thành điện, điện biến nước biển thành nước ngọt, nước ngọt đem đến mùa màng bội thu…

Nếu người Do Thái cứ ngồi khóc trong hào quang ánh sáng, cứ mơ ước về một thiên đường xa vời chưa bao giờ hiển hiện, liệu họ có được như ngày nay?

Dân tộc nào, xã hội nào cũng có giai đoạn thăng trầm, sau vinh quang là cay đắng, cam tâm sống trong cay đắng chỉ là Con, biết nuốt tủi hổ vươn lên sẽ là Người.

Trên thế gian, không phải chỉ có một con đường duy nhất để “Con” biến thành “Người”, vấn đề là “Con đầu đàn” chọn sao trên trời để định hướng hay nhìn đường mòn để bước theo?

Dù chọn sao hay chọn đường mòn thì điều quan trọng nhất vẫn là đích đến. Chọn sai đường sẽ mất thời gian, chọn sai đích sẽ mất tương lai.

Trên đời này có ai dám khẳng định mình nhìn thấy chính xác tương lai phía trước? Nếu đã không chắc xã hội loài người tương lai chính xác sẽ thế nào thì dựa vào đâu để khẳng định nó là thiên đường chứ không phải ảo vọng, làm sao biết đang đi đúng hướng hay chệch hướng?

Trí tuệ con người vốn không có giới hạn, vốn luôn luôn phát triển. Những gì mà bộ não con người có thể nghĩ ra, sớm muộn sẽ trở thành hiện thực.

Tuy nhiên đó phải là những suy luận logic, phù hợp với quy luật tự nhiên chứ không phải kiểu “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”.

Áp đặt cái thiển kiến của một người cho muôn người không phải là sản phẩm trí tuệ, đó chỉ là sự cưỡng bức mang màu trí tuệ.

Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều đã từng khắc khoải thốt lên:
 
“Bất tri tam bách dư niên hậu; Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
(Chẳng biết hơn ba trăm năm sau, Người đời có ai khóc Tố Như chăng?)

Truyện Kiều trở thành cẩm nang cho một nét văn hóa dân gian là “Bói Kiều”, vậy nhưng Tố Như cũng không thể biết hậu thế vài trăm năm sau sẽ có ai khóc cho số phận của ông?

Chẳng Quân vương nào có thể rẽ biển đưa dân chúng tới miền Tự Do, vậy nên mong muốn có quyền năng của Chúa chỉ là ảo vọng hay còn là sự dại khờ?

----------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

[1]Cụm từ "Jewish Passover” dịch sát nghĩa là “Lễ Vượt qua” song vì nó gắn với câu chuyện vượt biển của người Do Thái nên nhìn chung, các học giả vẫn dịch là “Lễ Quá hải” hay “Lễ Vượt biển”

 [2]http://www.tienphong.vn/xa-hoi/vuong-quoc-chim-da-chet-997957.tpo
Tác giả bài viết: Xuân Dương
Nguồn tin: giaoduc.net.vn


18 tháng 5, 2016

868. Bí ẩn hợp đồng BOT đường bộ: Nhà đầu tư luôn có lãi?

Vốn vay ngân hàng, thu phí của dân

Trong các hợp đồng BOT được tham khảo, hầu hết các nhà đầu tư đều đi vay vốn ngân hàng với tỷ lệ lớn có khi lên đến hơn 85% và vốn tự có chỉ 15%.

Hợp đồng BOT đoạn Quốc lộ I Cai Lậy, Tiền Giang với chiều dài khoảng 40km. Tổng vốn đầu tư gần 1.400 tỷ, nhưng chủ đầu tư chỉ có trên 200 tỷ, vay gần 1.200 tỷ đồng.

Dự án mở rộng đoạn quốc lộ I tỉnh Bình Thuận chiều dài 44,7 km, tổng vốn đầu tư gần 2.600 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu chỉ gần 400 tỷ đồng, còn lại vay gần 2.200 tỷ đồng (chiếm 85% tổng vốn).

Nhiều hợp đồng BOT khác vốn chủ sở hữu cũng chỉ 15%, còn lại đi vay ngân hàng.

Dự án mở rộng quốc lộ I đoạn qua tỉnh Bình Định và Phú Yên có tổng vốn đầu tư hơn 2.000 tỷ. Nhưng vốn chủ sở hữu chỉ có gần 280 tỷ, chỉ chiếm khoảng 13,67%, còn lại là 1.762 tỷ đồng đi vay, chiếm 86,3% tổng vốn đầu tư.

Về mặt luật pháp, các nhà đầu tư không sai. Nhưng Luật sư Trương Thanh Đức - Chủ tịch HĐTV công ty TNHH Luật Basico, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cho rằng, quy định nhà đầu tư có tối thiểu 15% vốn trên tổng vốn đầu tư dự án BOT hoặc ít hơn với dự án trên 1.500 tỷ là quá thấp. Nhà đầu tư thực hiện dự án chủ yếu dựa vào vốn vay, lãi suất cao, chẳng khác gì “tay không bắt giặc”.

Thậm chí, ở đây còn có sự vô lý thể hiện ở chỗ, nhà nước huy động tư nhân vào đầu tư hạ tầng vì nhà nước thiếu tiền. Nhưng nhà đầu tư tham gia đầu tư hạ tầng cũng lại chỉ dựa vào vốn vay để thực hiện dự án.

“Nếu để nhà nước đi vay bằng trái phiếu, rồi đầu tư làm đường, chắc chắn lãi suất thấp hơn việc nhà đầu tư đi vay ngân hàng”, ông Trương Thanh Đức băn khoăn và cho rằng cần nâng tỷ lệ này lên 50%, thậm chí 70%.

Vì sao các ngân hàng lại rộng rãi cho vay các dự án BOT như thế? Bởi vì mức lãi vay để tính toán thời hạn hợp đồng được Bộ GTVT và các nhà đầu tư tạm tính ở mức khá cao, ở mức 10-12% (có điều chỉnh trong trường hợp lãi suất thực tế trung bình hàng năm thay đổi).

Như thế, mỗi dự án đều phải trả lãi vay hàng trăm tỷ đồng trong quá trình đầu tư dự án. Và thực tế, đã có chủ đầu tư khi xin tăng phí đã tuyên bố nếu không tăng phí thì phá sản vì tăng cũng mới chỉ đủ trả lãi ngân hàng.

Ông Đức băn khoăn: “Tôi xem xét các hợp đồng đường bộ BOT, gần như nhà đầu tư không có rủi ro. Đáng lẽ, trong trường hợp này lãi ngân hàng phải cực thấp, làm sao được cao như thế”.

Không có dự án nào an toàn chắc chắn trong tất cả lĩnh vực cho vay. Nhưng cho vay dự án đường bộ BOT thì ngược lại. Ngân hàng chắc chắn không bao giờ mất vốn. Như thế họ sẽ cho vay càng nhiều càng tốt.

“Tôi mà làm ngân hàng tôi cũng muốn cho vay”, ông Đức nói.

Đảm bảo có lãi, không bao giờ lỗ?

Nghiên cứu các điều khoản về thu phí, Luật sư Trương Thanh Đức không khỏi giật mình vì nhiều điều khoản đảm bảo nhà đầu tư không có rủi ro gì về mất vốn đầu tư, kể cả trường hợp bất khả kháng, thiên tai, chiến tranh, thay đổi pháp luật…

Cũng tương tự, ông Bùi Danh Liên, Chủ tịch Hiệp hội vận tải TP Hà Nội thốt lên: “Quá chiều nhà đầu tư rồi!”

Những tình tiết trong hợp đồng từ thay đổi thiết kế, giá vé, chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, cho đến mật độ phương tiện, thiên tai địch họa, lãi suất ngân hàng… nếu ảnh hưởng doanh thu nhà đầu tư đều được bảo vệ bằng cách kéo dài thời gian thu phí. Bình luận điểm này, một chuyên gia am hiểu về BOT chia sẻ: “Điều này có nghĩa, nếu không được tăng giá vé thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến nhà đầu tư. Giá vé không tăng mà thời gian thu phí tăng lên gấp đôi thì nhà đầu tư cũng không sao”.

Đáng chú ý, ở điều khoản về sự kiện bất khả kháng, các hợp đồng cũng cài thêm nhiều lý do khiến nhà đầu tư được kéo dài việc thu phí.

Thậm chí, mục này còn có nội dung nếu việc thu phí không đảm bảo hoàn vốn cho nhà đầu tư như tính toán, thì “Bộ GTVT sẽ xem xét phối hợp cùng nhà đầu tư trình cơ quan chức năng có liên quan và Chính phủ hỗ trợ cho nhà đầu tư về cơ chế, chính sách, đảm bảo việc thu hồi vốn và lợi nhuận cho nhà đầu tư”.

Điều khoản này còn được quy định thoáng hơn trong Hợp đồng Cai Lậy – Tiền Giang, Bộ GTVT và nhà đầu tư không phải trình cơ quan nào khác về việc thay đổi thời gian thu phí, mà hai bên tự thương thảo theo hướng kéo dài cho nhà đầu tư.

Cụ thể: “Trường hợp doanh thu thu phí không đảm bảo hoàn vốn cho nhà đầu tư theo như tính toán tại phương án tài chính trong hợp đồng thì Bộ GTVT sẽ xem xét phối hợp cùng nhà đầu tư tính toán lại theo hướng kéo dài thời gian thu phí cho nhà đầu tư”.

Bất khả kháng thường chỉ quy định về thiên tai, địch họa, những tình huống bất thường ngoài tầm kiểm soát chứ không thể vì bài toán kinh doanh tính sai cũng được đưa vào để miễn nhiễm trách nhiệm.

“Những dự án kinh doanh khác, khi có sự kiện bất khả kháng thì nhà đầu tư vẫn phải gánh chịu. Riêng các dự án BOT này tuyệt đối an toàn, luôn luôn có lãi, không thể lỗ. Nó chỉ thu hồi vốn nhanh hay chậm”, ông Trương Thanh Đức nhấn mạnh.

Còn ông Bùi Danh Liên nhận xét: 'các điều khoản trong các hợp đồng này đều bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư đến cùng". Luật sư Trương Thanh Đức có chung quan điểm: “Tóm lại quy định trong những hợp đồng này tuyệt đối chắc chắn, có lợi lớn cho nhà đầu tư, song lại vô cùng bất lợi cho người sử dụng, ảnh hưởng cho hiệu quả của cả nền kinh tế”.

Theo ông Bùi Danh Liên, nhìn các hợp đồng này, có thể thấy “nhà đầu tư được ký hợp đồng cũng ngon lành, người cho nhà đầu tư vay vốn cũng ngon lành. Chỉ khổ là người dân, các DN phải trả phí”.

Nhắc đến câu chuyện từ Hà Nội về Thái Bình 100km tới 4 trạm thu phí, tiền phí đường nhiều hơn tiền xăng dầu, đại diện các DN vận tải Hà Nội trăn trở: “Xin mời các vị quan chức bỏ tiền túi ra, đi xe biển trắng thì mới thấm đòn phí BOT”.

Hà Duy

13 tháng 5, 2016

867. Chúa trời và con đường đáy biển

XUÂN DƯƠNG

07:47 13/05/16
(GDVN) - Dù chọn sao hay chọn đường mòn thì điều quan trọng nhất vẫn là đích đến. Chọn sai đường sẽ mất thời gian, chọn sai đích sẽ mất tương lai

Có một chủng tộc khiến nhiều người ngưỡng mộ, nhưng cũng không ít người ghen ghét vì sự thông minh là người Do Thái, dân tộc này có một ngày lễ trọng trong năm là “Lễ Quá hải” còn gọi là Lễ Vượt biển (Jewish Passove) [1]. “Lễ Quá hải” bắt nguồn từ câu chuyện lịch sử được đề cập chi tiết trong Kinh Thánh – phần Cựu Ước.

Chuyện kể về hành trình chạy trốn khỏi Ai Cập của người Do Thái cổ đại đã được Chúa giúp đỡ bằng cách tách đôi biển cả thành một con đường cho dòng người chân trần, đói khát băng qua.
Khi quân Ai Cập đuổi đến, Chúa khép biển trở lại khiến vô số quân lính Ai Cập chết đuối.

Người Do Thái được Chúa ban cho mảnh đất chỉ có cát trắng và nắng nóng nhưng họ vô cùng biết ơn bởi họ có được điều quý giá nhất là Tự do.
Tự do chắp đôi cánh cho Sáng tạo vì thế ngày nay dù là một quốc gia nhỏ bé chưa đến 20 triệu người, Do Thái vẫn là một cường quốc trên bản đồ chính trị toàn cầu.

Nếu người Do Thái được Chúa ban cho rừng vàng, biển bạc, nhưng họ loay hoay tìm mãi mà vẫn chưa hiểu ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ “Tự do”, liệu Sáng tạo có được chắp thêm đôi cánh?

Ngay cả khi đã có đôi cánh, nếu không gian của Sáng tạo lại là chiếc lồng “Tự do” được hút chân không thì dù kiên trì đến mấy cũng không thể cất cánh.
Muốn giang rộng đôi cánh, phải có bầu trời.

Có người cho rằng, Chúa trời không công bằng với chính những đứa con của mình, Người cứu vớt đứa con Do Thái mà lại hy sinh đứa con Ai Cập.

Tuy thế, không thể nói Chúa đã sai lầm, bởi Người đã sớm nhận thấy sự lụi tàn của đế chế Ai Cập, một trong số ít nền văn minh rực rỡ nhất địa cầu.
Sự tàn bạo của các Pharaoh trong cai trị dân chúng, sự ngạo mạn trong việc xây Kim tự tháp hòng đạt đến sự bất tử là con đường tự nhiên dẫn đến diệt vong.
Thế nên, hy sinh đứa con ngạo ngược, chuyên chế để giữ lại những đứa thông minh mới chính là sự sáng láng của Chúa.
Những đứa con được Chúa cứu vớt đã sản sinh cho nhân loại khoảng 160 nhà khoa học được giải Nobel, chiếm 20% tổng số người được giải toàn cầu.

Nơi trần thế này chẳng hiếm trường hợp vua chúa, quan lại vì những đứa con riêng của mình mà hy sinh cả bàn dân thiên hạ, vì phe nhóm của mình mà dửng dưng nhìn dân lành sống mòn trong đói khổ, bệnh tật, nhìn đất nước bị ngoại bang dày xéo…

Có một thành phố, nơi khí thiêng hội tụ, nơi “tinh hoa” chen chúc, khi dân chúng kêu gọi đổi thay, người đứng đầu bảo “không vội được đâu”.

“Không vội” nghĩa là cứ chờ, là giữ nguyên như cũ, không vội là dẫu có sai thì cũng chưa cần sửa?
Điều nguy hiểm nhất của “không vội” là không cần phát triển, là chấp nhận trở thành kẻ đi sau, là biến đất nước thành bãi rác cho kẻ đi trước xả thải?

Quan điểm “không vội” không biết từ bao giờ đã thành phương châm xử thế của cả một hệ thống. Rừng bị tàn phá: không vội; sông cạn trơ đáy: không vội; dân bị tù oan: không vội; thực phẩm bẩn lan tràn: không vội…

Bộ phim truyền hình Đảo Đười Ươi (Orangutan Island) do kênh truyền hình Khám phá thế giới (Discovery World HD) trình chiếu mô tả hoạt động tại một Trung tâm cứu hộ đười ươi.
Hàng trăm cá thể đười ươi mồ côi được cứu hộ về đây chăm sóc, khi khỏe mạnh chúng được thả lên một hòn đảo, trở về cuộc sống hoang dã.

Điều lo lắng nhất của nhân viên Trung tâm cứu hộ là bầy đười ươi khi thả về rừng bị mất đi hầu hết bản năng tự nhiên.
Chúng không biết bẻ cành cây làm chỗ ngủ, không chịu leo cây mà đi trên mặt đất, nhiều con ngủ ở gốc cây, bụi cỏ, chúng chờ người mang thức ăn tới, tranh giành nhau khiến phần lớn thức ăn rơi vãi xuống nước…

Có một nơi được khẳng định là tiến hóa hơn, văn minh hơn xã hội đười ươi, nhưng một bộ phận không nhỏ cá thể “không phải đười ươi” ở đó dù không cùng loài song lại giống lũ đười ươi Orangutan Island đến kinh ngạc. 

Sự giống nhau đầu tiên phải kể đến là bẩn, đặc biệt là ăn bẩn, ăn không chừa một thứ gì, không chỉ “ăn” các thứ có thể nhai mà còn “ăn” cả các thứ không thể nuốt, tỷ như “danh hiệu anh hùng”.

Sự giống tiếp theo là “gãi”, đười ươi ngồi đâu cũng gãi, bạ chỗ nào gãi chỗ ấy, đằng này “gãi” là một biện pháp chống “dị nghị” nên giới hạn chỉ được phép gãi từ vai trở xuống… 
Mã di truyền của những cá thể “không phải đười ươi” là bắt nạt kẻ yếu, khúm núm trước kẻ mạnh, nếu “to xác” một tí thì tìm cách tranh giành địa vị con đầu đàn.

Được nuôi dưỡng bên trong những hàng rào sắt, khi tự do cũng là lúc lũ đười ươi Orangutan Island mất đi khả năng sáng tạo mà thiên nhiên ban cho tổ tiên của chúng.
Dẫu có dạy dỗ mãi thì chúng cũng không thấm vào đầu chút gì, ngoại trừ khả năng bắt chước.

Điều này có phải cũng  đúng với xã hội loài người?

Trong một Vương quốc hùng mạnh, vị Quân vương anh minh không thể có đám cận thần dốt nát. Có thể có những kẻ tham lam, quỷ quyệt nhưng chắc chắn đó đều không phải là người đần độn.
Nếu trong đám cận thần được Quân vương tuyển chọn có quá nhiều người thiếu trí tuệ, thừa lòng tham thì liệu Quân vương có phải là bậc tài cao, đức trọng?

Một trưởng “cấp Cục” gọi chủ tư bản doanh nghiệp nước ngoài là “đồng chí”? Làm đến trưởng của một Cục, người ta chắc chắn phải được dạy dỗ đến nơi đến chốn về lý luận.
Bộ “sưu tập” bằng cấp chắc phải là một tập dày gồm bằng đại học (mà cũng có thể là thạc sĩ hoặc tiến sĩ) mấy bằng lý luận sơ, trung, cao... Không biết khi học người ta có dạy cho cá thể ấy “đồng chí” nghĩa là gì?

Cũng có thể, trên con đường tiến hóa, cá thể ấy có cách định nghĩa “đồng chí” của riêng mình, nếu đã đi trước thời đại như vậy, ngồi ở vị trí ấy để làm gì?
Còn nếu vẫn là thành viên “nhóm không vội” nghĩa là không đi trước thời đại, vì sao “được dạy dỗ đến nơi đến chốn” mà lại không thấm được chút gì vào đầu, lại xem kẻ bóc lột đồng bào mình là “đồng chí”?

Một “cấp Sở” khi được thông báo, rằng hòn đảo vốn được mệnh danh là “thiên đường chim hải âu” nay không còn bóng chim nào đã trả lời “chim chết là việc chim chết, không liên quan gì đến tôi”? [2].
Thế nhưng lại có chuyện một cán bộ khác bị mất ba con chim, thế là khởi tố, thế là bắt giam mấy kẻ ngỗ ngược dám cả gan trộm chim chào mào quan Sở .

“Chim trời” vốn không phải của Sở nên có chết cũng chẳng liên quan gì, “chim Sở” dù chẳng phải  “của Trời” nhưng dẫu sao vẫn là tầm … “chim Sở”.

Chúa cho dân Do Thái mảnh đất khô cằn, chỉ có nắng nóng và cát bụi.
Người tin dân Do Thái sẽ sống tốt vì Người biết “Kẻ dẫn dắt” trong đám con dân Do Thái đã sớm nhận thấy hạnh phúc trong nước biển và ánh sáng, ánh sáng trở thành điện, điện biến nước biển thành nước ngọt, nước ngọt đem đến mùa màng bội thu…

Nếu người Do Thái cứ ngồi khóc trong hào quang ánh sáng, cứ mơ ước về một thiên đường xa vời chưa bao giờ hiển hiện, liệu họ có được như ngày nay?

Dân tộc nào, xã hội nào cũng có giai đoạn thăng trầm, sau vinh quang là cay đắng, cam tâm sống trong cay đắng chỉ là Con, biết nuốt tủi hổ vươn lên sẽ là Người.

Trên thế gian, không phải chỉ có một con đường duy nhất để “Con” biến thành “Người”, vấn đề là “Con đầu đàn” chọn sao trên trời để định hướng hay nhìn đường mòn để bước theo?

Dù chọn sao hay chọn đường mòn thì điều quan trọng nhất vẫn là đích đến. Chọn sai đường sẽ mất thời gian, chọn sai đích sẽ mất tương lai.

Trên đời này có ai dám khẳng định mình nhìn thấy chính xác tương lai phía trước? Nếu đã không chắc xã hội loài người tương lai chính xác sẽ thế nào thì dựa vào đâu để khẳng định nó là thiên đường chứ không phải ảo vọng, làm sao biết đang đi đúng hướng hay chệch hướng?

Trí tuệ con người vốn không có giới hạn, vốn luôn luôn phát triển. Những gì mà bộ não con người có thể nghĩ ra, sớm muộn sẽ trở thành hiện thực.

Tuy nhiên đó phải là những suy luận logic, phù hợp với quy luật tự nhiên chứ không phải kiểu “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”.
Áp đặt cái thiển kiến của một người cho muôn người không phải là sản phẩm trí tuệ, đó chỉ là sự cưỡng bức mang màu trí tuệ.

Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều đã từng khắc khoải thốt lên:

Bất tri tam bách dư niên hậu; Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
(Chẳng biết hơn ba trăm năm sau, Người đời có ai khóc Tố Như chăng?
)

Truyện Kiều trở thành cẩm nang cho một nét văn hóa dân gian là “Bói Kiều”, vậy nhưng Tố Như cũng không thể biết hậu thế vài trăm năm sau sẽ có ai khóc cho số phận của ông?
Tài liệu tham khảo:
[1]Cụm từ "Jewish Passover” dịch sát nghĩa là “Lễ Vượt qua” song vì nó gắn với câu chuyện vượt biển của người Do Thái nên nhìn chung, các học giả vẫn dịch là “Lễ Quá hải” hay “Lễ Vượt biển”
Xuân Dương


22 tháng 4, 2016

865. AI BẢO KÊ ÔNG TRẦM BÊ

Huy Đức - huyduc's facebook

Quốc hội sẽ để Thống đốc Nguyễn Văn Bình yên với cam kết ngân sách không ảnh hưởng khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua 3 ngân hàng với giá 0 đồng? Quốc hội cũng để ông Bình liều mình “cứu chúa” bằng cách để NHNN đứng ra “nhận ủy quyền” phần vốn âm nhiều chục nghìn tỷ đồng của gia đình ông Trầm Bê sau khi sáp nhập ngân hàng Phương Nam (Southern Bank) vào Sacombank?
Southern Bank là một ngân hàng vi phạm gần như tất cả các quy định mang tính nguyên tắc mà Luật ràng buộc đối với một tổ chức tín dụng.
Hai cổ đông lớn nhất đều sở hữu cổ phần vượt 5% vốn điều lệ (ông Trầm Bê sở hữu 8,36%; con gái, Trầm Thuyết Kiều, sở hữu 7,36%). Nhóm cổ đông trong gia đình ông Trầm Bê và người có liên quan sở hữu tới 26,26% vốn điều lệ trong khi Luật cho phép tối đa chỉ 20%.
Đặc biệt, 71,28% tổng dư nợ được tập trung cho các nhóm khách hàng với mức cho vay mỗi nhóm vượt nhiều lần quy định so với vốn tự có của Southern Bank.
Cũng như Nguyễn Văn Mười Hai sử dụng “Nước Hoa Thanh Hương”, ông Trầm Bê đã sử dụng Southern Bank như một công cụ huy động vốn. Thường, những khoản “vốn” này được dùng để kinh doanh địa ốc.
“Khách hàng” Thạch Thị Thúy An – nhân viên tín dụng của Southern Bank – được vay 280 tỷ VND mà không cần tài sản thế chấp gì để một thời gian sau thì đưa về 25 “sổ đỏ”. “Khách hàng” Thạch Thị Qui – nhân viên phòng đầu tư – vay 280 tỷ cũng không thế chấp gì và khi bổ sung tài sản đảm bảo thì lại là 28 “sổ đỏ”.
Việc rút hàng trăm tỷ đồng rồi sau đó mang “sổ đỏ” về còn được lặp lại với hàng loạt “khách hàng”: Phạm Thị Ngọc Điệp, 280 tỷ VND; Lưu Thị Lợi, 280 tỷ VND; Châu Khương, 457 tỷ VND; Diệp Thị Linh, 384 tỷ VND; Ngô Thị Bích Duyên, 380 tỷ VND; Trương Cẩm Linh, 390 tỷ VND…
Hàng chục công ty “khách hàng” của Phương Nam được lập ra để “vay” hàng trăm, hàng nghìn tỷ từ Phương Nam mà các cổ đông có khi là con dâu, con rể ông Trầm Bê hoặc “cháu ông Trầm Bê”, “cháu vợ ông Trầm Bê và có khi chỉ là một “nhân viên tập sự” của chính ngân hàng này (Ngày 2-2-2012 bà Trương Cẩm Linh được “nhận thử việc” tại Công ty quản lý nợ của Phương Nam; Ngày 10-2-2012, bà Linh được “cho vay” 390 tỷ).
Nếu không phải là con cháu trong nhà thì “khách hàng” của Phương Nam cũng là những
người nằm trong “nhóm lợi ích” như Bầu Kiên; như nhóm của “Bầu” Thắng Đồng Tâm (có số dư nợ tới 6-2012 là 4.440 tỷ VND); như nhóm công ty của Trần Minh Chí – em vợ Thủ tướng đương nhiệm (có số dư nợ tới 6-2012 là 1.245 tỷ VND)…
Rất nhiều “hợp đồng tín dụng” chỉ như để rút tiền ra khỏi ngân hàng. Hàng trăm tỷ được rút ngay một lần và không ai biết rõ những số tiền khổng lồ đó được đưa đi đâu vì con số thực chi cho các “dự án” so với quy mô thế chấp vay tiền là vô cùng nhỏ.
“Khu dân cư Trần Thái” – của ông Trần Minh Chí, em vợ Thủ tướng – được định giá 603 tỷ VND, đã vay và dư nợ tới 6-2012 là 249 tỷ VND, nhưng cùng thời, các chi phí tư vấn, giám sát, đền bù cho người dân và các chi phí quản lý công trình cho công trình này mới được ghi nhận là 12,58 tỷ đồng. Tương tự, 110.158 m2 đất tại xã Phong Phú huyện Bình Chánh được định giá 551 tỷ đồng, trong khi trên thực tế Phong Phú chỉ mới chi đền bù 24 tỷ đồng chứ chưa làm gì cả.
Làm thế nào để năm 2012, khi Phương Nam đã lỗ lũy kế 15.756 tỷ VND, ông Trầm Bê lại còn có thể thu gom cổ phiếu của Sacombank.
Không phải ngẫu nhiên khi rất nhiều khoản “vay” của các “khách hàng” có liên quan tới ông Trầm Bê cho những dự án mà chúng ta thấy là chi tiêu rất nhỏ so với các khoản tiền đã giải ngân. Những lần “tăng vốn” cho chính Southern Bank, lần theo các khoản vay và góp vốn, thấy rất rõ sự liên quan giữa việc gia đình ông Trầm Bê đã “rút” tiền gửi của khách hàng với việc “góp vốn” vào ngân hàng.
Trong lần tăng vốn đợt 2, từ 3,2 nghìn lên 4 nghìn tỷ, (tháng 6-2012), gia đình Trầm Bê “góp” 289,4 tỷ VND. Trong các khoản vay cùng thời điểm, ta thấy: Ngày 4-6-2012, “khách hàng” Nguyễn Thị Hồng, con dâu ông Trầm Bê, vay 140 tỷ, “khách hàng” Nguyễn Thị Thu Hà vay 150 tỷ từ Southern Bank
Cùng ngày 4-6-2012, Southern Bank “giải ngân” 280 tỷ, ngày hôm sau “giải ngân” tiếp 10 tỷ, tất cả đều được chuyển vào tài khoản của “Công ty Thành Long”, nơi con rể Trầm Bê là Lê Trọng Trí làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 4-6-2012, Lê Trọng Trí rút hết 280 tỷ đồng ra khỏi tài khoản Thành Long.
Ngay trong ngày 4-6-2012, người ta thấy “22 cổ đông” nhà Trầm Bê mua cổ phần với số tiền 280 tỷ 243 triệu. Ngày 5-5-2012, Lê Trọng Trí rút 9 tỷ đồng; cùng ngày, con trai ông Trầm Bê – Trầm Trọng Ngân – mua cổ phần với số tiền 9 tỷ 217 triệu.
Những sai phạm này có thể chưa cần phải “hình sự hóa” nếu nó không gây hậu quả to lớn như những gì ông Trầm Bê gây ra ở Southern Bank.
Tính tới 30-6-2012, dư nợ cho vay của Phương Nam là 51.300 tỷ VND; vốn chủ sở hữu đã thực âm 11.653 tỷ VND trong khi những khoản vay lên đến hàng chục nghìn tỷ khác của Phương Nam lại ở trong tình trạng “một đi không trở lại”. Chỉ tính trong số 42.829 tỷ VND dư nợ được thanh tra, đã có 9.531 tỷ VND có khả năng mất vốn; 8.529 tỷ VND khó có khả năng thu hồi khi xử lý tài sản.
Ông Trầm Bê, với tư cách Chủ tịch hội đồng tín dụng đã cho vay tới 6.343 tỷ đồng không có tài sản đảm bảo và đứng trước nguy cơ mất vốn; 3.236 tỷ VND khác được cho vay với tài sản đảm bảo không đủ điều kiện thế chấp, được đánh giá là có khả năng mất vốn; 8.521 tỷ khác cho vay với tài sản chưa hoàn tất thủ tục pháp lý, khó có khả năng thu hồi nợ.
Phải chăng sau Vinashin, thất thoát hàng nghìn tỷ đồng vẫn có thể được Quốc hội và NHNN coi là “chuyện nhỏ”.
Ở thời điểm đầu năm 2012, Southern Bank đã hội đủ bệnh tật để bị kiểm soát đặc biệt. Ai đã đưa ra kịch bản thâu tóm Sacombank hòng “đánh bùn sang ao”. Vì sao NHNN đã im lặng để “nhái ốm” Southern Bank “nuốt” xong “con rắn hổ mang” Sacombank rồi mới “nhận ủy quyền” món nợ từ ông Trầm Bê đã trở nên chồng chất.
Theo tính toán của Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, chi phí minh bạch mua một cổ phiếu Sacombank của ông Trầm Bê lên đến hơn 30 nghìn VND/ cổ phiếu trong khi ông chỉ có thể thu lợi khoảng 25 nghìn VND/ cổ phiếu (gộp cả cổ tức tính từ khi mua). Sáp nhập vào Sacombank rõ ràng là một cuộc đào thoát chứ không phải là một thương vụ.
Vào thời điểm Trầm Bê thâu tóm cổ phiếu Sacombank, đầu năm 2012, Southern Bank đang lỗ 15.756 tỷ VND, nợ xấu đang ở mức 45,6%. Vào thời điểm Trầm Bê và các thân hữu của ông “thôn tính” Sacombank, nợ xấu của Southern Bank lên tới 55,31%. Con số tuyệt đối thì mới kinh hoàng.
Quốc hội nên dành cho Thống đốc Nguyễn Văn Bình một ngày trên hội trường, để các đại biểu và, đặc biệt, các thành viên Ủy ban Tài chánh & Ngân sách chất vấn ông Nguyễn Văn Bình.
Chỉ cần bạch hóa hồ sơ về những gì ông Trầm Bê đã làm ở Southern Bank, các vị sẽ biết rõ cái gọi là tái cấu trúc ngân hàng, xử lý nợ xấu là gì. Chỉ cần xem xét vài hồ sơ “đảo nợ” ở Southern Bank, các vị sẽ rõ các món nợ đã được “làm đẹp sổ sách” như thế nào, sẽ hiểu vì sao GDP vẫn tăng mà nền kinh tế thì càng èo uột, ngân sách thì trống không mà quan chức và các con nợ thì vẫn chi xài như đại gia.
Nếu không dùng ngân sách thì ông Bình sẽ dùng phép thần thông nào để chi trả nhiều chục nghìn tỷ đồng thâm thủng ở Southern Bank và các ngân hàng “0 đồng” khác.
Cách “tái cấu trúc” ngân hàng của Thống đốc Nguyễn Văn Bình có thể sẽ nuôi được các con bệnh ngân hàng qua mùa Đại hội nhưng khi những món nợ nhiều chục nghìn tỷ đồng của ông Trầm Bê và của các “ngân hàng 0 đồng” liên tục đáo hạn ông Bình sẽ chi trả cho dân bằng gì.

Các sai phạm của ông Trầm Bê thì khác gì với ông Thắm Đại Dương, với ông Danh ngân hàng Xây Dựng. Từ 2012 tới nay, ai đang bảo kê cho ông Trầm Bê.

31 tháng 10, 2015

863. EM VỢ THỦ TƯỚNG & "SIÊU LỪA" DƯƠNG THANH CƯỜNG

Giang hồ từ lâu đã đồn, đằng sau Huyền Như là con gái TT NTP ... chả bik fải thế nào thì các đảng viên trung kiên của đảng mở mắt ra B-|
EM VỢ THỦ TƯỚNG & "SIÊU LỪA" DƯƠNG THANH CƯỜNG
Huy Đức
Vợ chồng tướng công an Trần Quốc Liêm - em vợ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - là "mắt xích" quan trọng nhất trong vụ án Dương Thanh Cường (lừa đảo ngân hàng Agribank 966 tỷ đồng). Thế nhưng, khi tường thuật phiên tòa diễn từ 22-10-2015 và kéo dài suốt tuần, các nhà báo (lại) đều làm như không nhìn thấy "cặp voi này trong phòng khách".
Không một lần, cái tên Trần Quốc Liêm và vợ ông, Trần Hoa Mai, xuất hiện trong các bài tường thuật. Vụ án, vốn được xếp trong "tám Đại án tham nhũng", nếu vẫn được tuyên vào thứ Tư, 4-11-2015, sẽ đi qua như một vụ hình sự thường.
Dương Thanh Cường, sinh năm 1965, vào giữa thập niên 1990 đã từng đối diện án tử hình với 5 tội danh trong đó có tội lừa đảo và đưa hối lộ; sau đó được giảm xuống chung thân rồi 20 năm. Cường ở tù tới năm 2005 thì được tha.
Năm 2007, nhờ mối quan hệ này và trên cơ sở 5 ha đất của ông bà Trần Quốc Liêm - Trần Hoa Mai tại xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Cường lập dự án "cao ốc căn hộ và khu biệt thự vườn Thanh Phát". Ngoài việc "chuyển nhượng" đất cho Dương Thanh Cường, bà Trần Hoa Mai còn nhận đứng ra "mua gom đất đai" cho Cường làm dự án.
Theo lời khai ban đầu của Cường, anh ta có nhờ tướng Trần Quốc Liêm "trao đổi với ông Nguyễn Thế Bình, Tổng giám đốc Agribank" để ngân hàng cho Cường vay tiền. Cho dù khi bị tạm giam, Cường đã "rút lại lời khai" này, nhưng các diễn tiến của vụ án cho thấy, trong lịch sử làm ăn rất "liều" của mình, nếu không có sức ép đủ lớn, chưa bao giờ Agribank "giải ngân" theo kiểu "ném tiền" như thế.
Chỉ với 23 "sổ đỏ" đất nông nghiệp, "Dự án" chưa hề có một "bút phê" nào của cấp có thẩm quyền, vậy mà Dương Thanh Cường "xin vay 700 tỷ đồng", Agribank "duyệt ngay cho vay 700 tỷ đồng". Và, chỉ trong một thời gian mấy tháng, Agribank đã giải ngân 628 tỷ đồng cho dù "dự án" của Cường không hề có bất cứ dấu hiệu nào khởi động.
Theo Cáo trạng (liệt kê), có tới 566 tỷ đồng (một con số khác là 386,36 tỷ đồng - trong số 628 tỷ đồng này) ngân hàng Agribank chuyển cho Cường thông qua tài khoản cá nhân của bà Trần Hoa Mai.
"Giải ngân" xong, Agribank liền cho Cường "mượn" những cuốn "sổ đỏ" đang được thế chấp này đi làm thủ tục sang tên. Trưởng phòng tín dụng Agribank, chi nhánh 6, Hồ Văn Long khai, lẽ ra Agribank phải cử cán bộ "áp tải" những cuốn sổ đỏ này đến cơ quan chức năng, nhưng Long tin lời Dương Thanh Cường, "nếu để Cường trực tiếp cùng bà Trần Hoa Mai và ông Trần Quốc Liêm đi làm sẽ nhanh hơn".
Cường mang khối tài sản đã thế chấp này đi gặp ông Trầm Bê, ông Trầm Bê cho vay tiếp 1.500 lượng vàng (từ ngân hàng Phương Nam - chúng ta còn có cơ hội "gặp" lại ông Trầm Bê khi nói về gia đình này).
Những hành động tiếp tay khá đắc lực cho Dương Thanh Cường lừa đảo đã không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các cơ quan tố tụng cho rằng, mối quan hệ giữa vợ chồng thiếu tướng Trần Quốc Liêm và Cường là "quan hệ dân sự".
Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao vừa đặt vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tham khảo án lệ trong trường hợp này không có ví dụ nào tốt hơn là đối chiếu với hợp đồng chuyển nhượng đất giữa công ty Bình Giã và Tamexco hồi 1994.
Ông Trần Quang Vinh, chủ công ty Bình Giã, vì bán đất cho Tamexco và sau đó số đất này được "định giá cao lên" để Tamexco đi thế chấp mà cả ông, ông giám đốc Tamexco và ông trưởng phòng công chứng Vũng Tàu đều bị tử hình.
Hội đồng thẩm định giá TP HCM định giá "23 sổ đỏ của Cường" chỉ tương đương 126 tỷ đồng - giá tại thời điểm thế chấp - vậy mà Agribank vẫn cho vay 628 tỷ. Và, chỉ riêng 5 hecta của vợ chồng thiếu tướng Trần Quốc Liêm, đã "bán" được cho Dương Thanh Cường 347,9 tỷ đồng (giá 7 triệu đồng/m2 đất ruộng). Vợ chồng ông Liêm bà Mai đã nhận 171,2 tỷ đồng (119 tỷ chuyển khoản; 52,2 tỷ do Cường nhiều lần mang tới tận nhà).
So sánh vụ này với Tamexco là xúc phạm vong linh các bị án trong vụ Tamexco, đặc biệt là xúc phạm ông Trần Quang Vinh. Ông Vinh là một nhà doanh nghiệp nghiêm túc. Ông đã bỏ ra rất nhiều tiền để làm "cơ sở hạ tầng đổi đất", góp phần làm thay đổi bộ mặt Bãi Trước Vũng Tàu. Cho đến khi ông bị hành quyết, Chính quyền Vũng Tàu vẫn còn nợ ông Trần Quang Vinh 17 tỷ.
Khoản tiền "thất thoát" trong vụ án Dương Thanh Cường chủ yếu nằm ở "Dự án Thanh Phát". Một "Dự án ma" - có sự tham gia rất trực tiếp của ông bà Trần Quốc Liêm, Trần Hoa Mai - đã giúp Cường chiếm đoạt của Agribank 966 tỷ đồng (con số thiệt hại trên thực tế theo luật sư Trương Thị Hòa là 1.500 tỷ đồng). Vậy nhưng, trong mấy ngày xử án vừa qua, cho dù được các luật sư yêu cầu, Tòa cũng không triệu tập ông bà Liêm - Mai.
Đất nông nghiệp, chưa được chuyển mục đích sử dụng, không được chấp thuận làm dự án, được mua bán với giá 7 triệu/m2, có thể coi là một "giao dịch dân sự ngay tình" không.
Nếu đã xác định khoản tiền 171,2 tỷ đồng mà Dương Thanh Cường trả cho vợ chồng tướng Trần Quốc Liêm được lấy từ Agribank thì nên coi đó là những đồng tiền "do Cường phạm tội mà có" chứ không thể coi đó là tiền của Cường để xác nhận thương vụ này là bình thường.
Có một câu hỏi mà các "đồng chí trong Đảng" của ông Liêm cũng cần đối chiếu với Nghị quyết TW 4 để đặt ra là, khối tài sản khổng lồ mà tướng công an Trần Quốc Liêm có, liệu đã được kê khai trung thực.
Không phải tự nhiên mà vài bị cáo từ Agribank đã "đấm ngực" trước tòa. Những cán bộ ngân hàng ấy, nếu không có sức ép như các lời khai ban đầu, liệu họ có dám giải ngân một khoản tiền khổng lồ cho một người có nhân thân như Dương Thanh Cường với các điều kiện thế chấp vu vơ như thế.
Tòa án nhân dân TP HCM nên hoãn tuyên án; trả hồ sơ để cơ quan điều tra điều tra lại từ đầu như đề nghị của một số luật sư. Và, theo tinh thần mà các vị đại biểu đang đề nghị ở Quốc hội: Với những vụ án liên quan đến những người quyền lực như thế này, nên trao cho một cơ quan điều tra đủ quyền độc lập.
Ông Trần Quốc Liêm không những là em của bà Trần Thanh Kiệm - phu nhân đương kim Thủ tướng - mà còn đang là một viên tướng quyền thế.
Năm 2010, Công an TP HCM (PC46) đã phát hiện, điều tra vụ án này và đã lên kế hoạch bắt "siêu lừa Dương Thanh Cường". Thiếu tướng Phan Anh Minh đích thân chỉ đạo. Nhưng ông Minh - một người được tiếng cương trực - cũng đã không vượt qua được những áp lực. Phải mất hơn hai năm sau, Cơ quan cảnh sát điều tra C48 của Bộ mới khởi tố được một vụ án "lừa đảo hai năm rõ mười".

Nếu phiên tòa xử "đại án tham nhũng" này khép lại vào thứ Tư, 4-11-2015. Và báo chí vẫn vờ như không có hai cái tên Trần Quốc Liêm - Trần Hoa Mai. Thì, cho dù Nghị quyết "Bốn, Năm" của TW có lấy chức Trưởng ban chống tham nhũng ra khỏi tay Thủ tướng. Trưởng ban chống tham nhũng mới, có vẻ như, vẫn chưa nắm được "thượng phương bảo kiếm".

12 tháng 6, 2015

862. 'DỰ ÁN XÃ HỘI HÓA' LÀ CÁI K**C KHÔ J?

Mỹ Lệ
Thứ Sáu, 12/6/2015, 06:10 (GMT+7)


Dự án BOT cầu Phú Mỹ - Ảnh minh họa: Anh Quân

(TBKTSG) - Gần đây, có nhiều dự án lớn được giới thiệu là dự án của Nhà nước nhưng thực hiện bằng nguồn vốn xã hội hóa, sẽ do tư nhân bỏ vốn ra làm, thậm chí có cả các dự án xây dựng khu hành chính tập trung. Lý do không dùng vốn ngân sách thường được sử dụng như một điểm cộng trong quá trình quyết định chủ trương đầu tư trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, nợ công tăng cao. TBKTSG phỏng vấn luật sư Nguyễn Tiến lập về xu hướng này.


Ông Nguyễn Tiến Lập.

TBKTSG: Nên hiểu (bản chất) các dự án xã hội hóa này là gì, thưa ông?

- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Trong ngữ cảnh “đầu tư”, chữ “xã hội hóa” được hiểu là các dự án đáng ra phải do Nhà nước đầu tư nhưng nay chuyển sang dùng vốn của thành phần khác, phi ngân sách nhà nước, mà thực chất là ám chỉ nguồn vốn tư nhân.

Về mặt tài chính, khi thuyết trình các “dự án xã hội hóa” hay dự án sử dụng “vốn xã hội hóa” trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các đại biểu Quốc hội hay các đại biểu hội đồng nhân dân, tính thuyết phục dường như cao hơn bởi ngầm định rằng “Nhà nước không mất gì mà chỉ có lợi” vì “ngân sách có phải chi đâu”...

Tuy nhiên, phân tích từ góc độ kinh tế quốc dân cũng như nền tảng pháp lý thì vấn đề không đơn giản như vậy.

Đối với nền kinh tế nói chung, đồng vốn nào cũng như nhau, không có sự phân biệt giữa vốn nhà nước hay tư nhân. Vấn đề ở chỗ sử dụng vốn thế nào cho công bằng, minh bạch, an toàn và hiệu quả. Ta vẫn hay nói rằng, khi đầu tư bằng vốn tư nhân, nếu có rủi ro thì tư nhân chịu.

Trên thực tế điều này không hẳn đúng, chẳng hạn các dự án xây khu đô thị, trung tâm thương mại vừa qua, trong đó, vốn mà nhà đầu tư tư nhân thực sự bỏ ra ban đầu chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, ước khoảng 10% hoặc 15% hay thấp hơn, số còn lại là vay ngân hàng. Sau đó, bằng nhiều cách, các chủ dự án đã thu hồi ngay phần “ứng vốn trước” kia của mình, cộng với khoản lãi “khủng”, rồi mặc cho doanh nghiệp có thể phá sản và ngân hàng ôm đống nợ khó đòi.

Cá biệt có trường hợp một vài chủ dự án có thể bị truy tố, vào tù bởi tội “lừa đảo” nhưng số đó rất ít và nếu có xảy ra thì họ cũng không sợ bởi “người ra đi nhưng tiền còn ở lại”.

Tôi sợ rằng, quy luật này sẽ lặp lại đối với các dự án cơ sở hạ tầng lớn, đang và sắp triển khai. Cuối cùng ai sẽ là người gánh chịu các rủi ro kia, nếu xảy ra? Phải chăng chính là nền kinh tế, là toàn bộ xã hội?

Từ góc độ pháp lý, một cách sòng phẳng thì Nhà nước phải có trách nhiệm đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng; và đổi lại, Nhà nước có quyền bán tài nguyên quốc gia hay phát hành trái phiếu để vay nợ rồi dùng tiền thuế để trả... Nay, nếu sử dụng con đường “xã hội hóa” để triển khai các dự án này sẽ đồng nghĩa với việc Nhà nước trao các quyền ấy, một cách cụ thể và trong từng dự án riêng lẻ, cho các ông chủ tư nhân.

TBKTSG: Với bản chất như vậy, có nhiều câu hỏi cần được đặt ra liên quan đến quan hệ giữa ba bên: Nhà nước - nhà đầu tư và người dân?

- Các câu hỏi đặt ra là Nhà nước, tức chính quyền ở trung ương và địa phương, có quyền làm như vậy không, nếu có thì trong giới hạn và điều kiện như thế nào?

Đối với chủ đầu tư, thì sẽ là các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu đối với cơ sở hạ tầng được tạo ra, quyền huy động vốn xã hội để thực hiện dự án và quyền thu tiền từ người sử dụng để hoàn vốn và kiếm lời.

Còn đối với người dân với tư cách là người tiêu dùng thì liệu quyền được lựa chọn của họ có được đảm bảo? Ví dụ Nhà nước quyết định xây một con đường hay cây cầu duy nhất tại một địa bàn, giao cho tư nhân làm, mặc dù có thể đạt chất lượng tốt, nhưng người dân, dù giàu hay nghèo, đều buộc phải đi con đường và cây cầu ấy và trả mức phí cao như nhau mà không thể lựa chọn!

TBKTSG: Theo ông, vấn đề đối với Việt Nam, xét cả góc độ tích cực và cảnh báo tiêu cực trong chuyện này là gì? Chẳng hạn có xu hướng hiện nay đối với các dự án hạ tầng BOT là chúng bị đội vốn lên rất cao so với dự toán ban đầu.

- Ý nghĩa tích cực của các dự án hạ tầng “xã hội hóa” thì dễ thấy. Đó là việc có thể sử dụng nguồn vốn bên ngoài để thực hiện dự án. Còn tác động tiêu cực thì một phần tôi đã nói ở trên.

Tuy nhiên, đúng là có một vấn đề trước mắt là nhiều dự án BOT phát triển hạ tầng thường có chi phí cao và bị đội vốn so với dự toán ban đầu. Từ góc độ dự án, chúng ta quan tâm hai vấn đề là chất lượng sản phẩm và giá thành đầu tư, chưa nói tới thời hạn hoàn thành.

Chất lượng các con đường BOT vừa qua, như chúng ta thấy, không cao, nếu không muốn nói là khá kém về tuổi thọ và độ bền. Còn về giá cả thì có thể thấy là rất cao, chưa kể tới việc phải cộng thêm các tài sản là “thương quyền” mà Nhà nước đã cấp hay chuyển nhượng cho các chủ dự án với mức ưu đãi, tức ngược với quan niệm cho rằng “tư nhân sử dụng tiền túi nên bao giờ cũng rẻ hơn”.

Tuy giá thành cao nhưng chủ đầu tư không e ngại bởi họ vẫn có thể thu lời thông qua khai thác các “thương quyền” được cấp, trong khi phần rủi ro tài chính sẽ do xã hội gánh chịu thông qua nợ xấu của các ngân hàng như đã diễn ra vừa qua.

Do đó, yêu cầu đặt ra đối với các dự án BOT là cơ chế kiểm soát của Nhà nước. Nó cần phải chặt chẽ, thậm chí ở mức cao hơn so với chính các dự án mà Nhà nước tự làm.

TBKTSG: Có sự khác biệt gì trong câu chuyện xã hội hóa dự án xây dựng các khu hành chính tập trung, vốn trước đây do ngân sách nhà nước đầu tư, so với dự án hạ tầng xã hội như giao thông, cung cấp nước sinh hoạt, xử lý nước thải..., do doanh nghiệp đầu tư và thu hồi vốn trực tiếp từ người dân khi sử dụng dịch vụ? Phải chăng đây là một bước mở rộng mới trong phương thức xã hội hóa, và vấn đề quản trị các dự án xây khu hành chính tập trung do tư nhân đầu tư nên như thế nào?

- Sự khác biệt là rất lớn và mang tính bản chất bởi “xây dựng trụ sở hành chính” không phải là đầu tư phát triển mà chỉ là chi tiêu công thông thường, tức thuộc hạng mục cần cắt giảm một khi thiếu thốn ngân sách do thu không bảo đảm bởi thực trạng yếu kém của nền kinh tế. Do đó, có thể nói rằng nó không bao giờ mang tính cấp thiết cả, cho dù được diễn đạt dưới danh nghĩa để nhằm cải cách các thủ tục hành chính. Bởi vậy, nếu các dự án loại này được triển khai theo phương thức “xã hội hóa” thì phải coi là một sự dị biệt, so với xu hướng “xã hội hóa” dự án cơ sở hạ tầng thông thường.

Từ góc độ tài chính, cần lưu ý rằng khi một địa phương xây dựng trụ sở bằng cách sử dụng tiền của tư nhân, thì đó chính là đi vay nợ tư nhân để chi tiêu công, tuy nhiên có thể lại không ghi vào ngân sách nợ. Có nghĩa là sẽ khó kiểm soát từ góc độ Luật Ngân sách.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý khả năng phức tạp và khó làm minh bạch các cơ chế liên quan như đàm phán với chủ đầu tư về giá thành đầu tư cũng như chuyển nhượng các thương quyền thuộc tài sản nhà nước tại địa phương, ví dụ quyền sử dụng đất hay các quyền kinh doanh khác.

Chi phí vốn của các dự án BOT thường đắt hơn so với lãi suất trái phiếu chính phủ. Người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu cuối cùng thông qua việc trả “phí dịch vụ” ngày càng tăng. Ảnh: THÀNH HOA

TBKTSG: Trên thực tế, nhu cầu đầu tư các dự án hạ tầng rất lớn mà ngân sách nhà nước thì luôn có hạn, đâu là cách làm đúng để giải bài toán này? Kinh nghiệm của các nước trong thực hiện các dự án này như thế nào?

- Không thể phủ nhận một thực tế không chỉ ở nước ta mà tất cả các nước đang phát triển, thậm chí ngay cả các nước phát triển, là nhu cầu tài chính rất lớn cho việc phát triển, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng. Nhu cầu này thường vượt quá khả năng cho phép của các chính phủ trong giới hạn của luật ngân sách. Do đó, từ những năm 90 của thế kỷ trước, việc triển khai dự án hạ tầng theo hình thức nhượng quyền cho tư nhân mà phổ biến là BOT đã trở thành một trào lưu được chào đón từ châu Âu, đến Mỹ, Nhật, Úc và các nước khác.

Các lợi thế được chờ đợi từ con đường mới này không phải chỉ là sự đáp ứng nhu cầu về nguồn tài chính bổ sung, mà quan trọng hơn, còn là việc ứng dụng các công nghệ mới cũng như khả năng quản trị và điều hành hiệu quả của khu vực tư nhân.

Tuy nhiên, với thời gian người ta đã bắt đầu làm các phân tích và so sánh, thấy có các “tác động ngược”, thậm chí gây bất ổn cho nền kinh tế.

Chẳng hạn, về mặt tài chính, chi phí vốn của các dự án BOT thường đắt hơn so với lãi suất trái phiếu chính phủ. Tức là, nếu chính phủ đi vay bằng cách phát hành các trái phiếu công trình thì chi phí sẽ rẻ hơn. Các ngân hàng và định chế tài chính sẽ dễ dàng chấp nhận tài trợ hơn nếu đó là dự án chính phủ, bởi rủi ro sẽ ít hơn.

Ngoài ra, quá trình đàm phán và chuẩn bị cho các dự án BOT thường bị kéo dài, và một khi như vậy, sẽ bị tác động tiêu cực do các điều kiện về kinh tế và chính sách vĩ mô thay đổi.

Tại Việt Nam, có đặc thù cần lưu ý là vốn tín dụng cho các dự án BOT xây cầu, đường thường lấy từ nguồn ngắn hạn để sử dụng dài hạn, do đó lãi suất buộc phải thả nổi, trong khi đồng tiền Việt Nam lại chưa thể chuyển đổi. Điều này làm tăng tính rủi ro cho cả chủ đầu tư và nhà cấp vốn.

Người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu cuối cùng thông qua việc trả “phí dịch vụ” ngày càng tăng cho các ông chủ tư nhân của các cây cầu, con đường ấy. Khác với việc trả thuế hay phí nhà nước, vốn phải do Quốc hội quyết định.

Tóm lại, tôi cho rằng con đường “xã hội hóa” các dự án hạ tầng chỉ nên coi là một giải pháp chứ hoàn toàn không phải là cứu cánh. Do đó, khi triển khai về phương diện chính sách, cần luôn luôn có sự cân nhắc kỹ càng để lựa chọn và quyết định, bao gồm cả mức độ về lượng trong tổng thể các dự án được quy hoạch, quy mô và sự tác động của từng dự án cụ thể, cũng như các biện pháp kiểm soát để giảm thiểu các rủi ro của dự án đối với nền kinh tế và sự tổn hại đối với lợi ích xã hội.

TBKTSG: Chính phủ vừa ban hành Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm tập trung đầu mối điều chỉnh thống nhất các hình thức đầu tư có tính chất xã hội hóa từ trước đến nay và có bổ sung một số hình thức. Ông nhận xét gì về các điều kiện pháp lý hiện nay cho vấn đề xã hội hóa này?

- Việc ban hành nghị định này là một nỗ lực lớn của Chính phủ nhằm tạo ra một quy chế pháp lý rõ ràng và sát thực hơn trên cơ sở tổng kết các kết quả và cả thất bại của các dự án cơ sở hạ tầng được triển khai chủ yếu theo hai hình thức BT và BOT trước đó.

Quản lý nhà nước đối với các dự án cơ sở hạ tầng “xã hội hóa” sẽ còn phức tạp và khó khăn hơn nữa, so với các dự án hạ tầng trước đây do Nhà nước tự thực hiện.



Cho tới nay, các dự án BT thường được thực hiện theo cơ chế “đổi đất lấy hạ tầng” khởi phát từ những năm 80 của thế kỷ trước. Với sự đi xuống của thị trường bất động sản, các rủi ro đối với dự án BT loại này tăng lên, nên loại dự án này cũng trở nên kém hấp dẫn hơn. Với các dự án BOT, vấn đề chung lại ở chỗ nguồn vốn huy động, hoặc chủ yếu từ tín dụng ngân hàng thay cho trái phiếu công trình, hoặc vẫn sử dụng vốn nhà nước một cách gián tiếp.

Vẫn còn khá sớm để đánh giá các tác động thực tế của nghị định mới này, tuy nhiên, có thể nói rằng đối với cơ chế “đối tác công tư” nói chung và các dự án cơ sở hạ tầng triển khai theo hình thức “xã hội hóa” này nói riêng, một khung khổ pháp lý hoàn thiện sẽ không chỉ bao gồm một văn bản pháp lý, hơn nữa lại mới ở cấp độ một nghị định chính phủ.

Các luật cũng như cơ chế thực thi luật trong lĩnh vực này cần phải được hoàn thiện ngay, bởi quản lý nhà nước đối với các dự án cơ sở hạ tầng “xã hội hóa” sẽ còn phức tạp và khó khăn hơn nữa, so với các dự án hạ tầng trước đây do Nhà nước tự thực hiện.

TBKTSG: Sau một thời gian dài chỉ chú trọng vào đầu tư công trong khi nguồn lực không đủ, quản lý hiệu quả đầu tư không tốt, nay ta có xu hướng xu hướng cổ xúy cho việc xã hội hóa, mà nổi lên gần đây là xã hội hóa các dự án hạ tầng xã hội, nhưng điều đó cũng tiềm ẩn những “bất ổn” như ông vừa nói ở trên.
Trong bối cảnh như vậy, theo ông, làm sao để sử dụng vốn nói chung cho “công bằng, minh bạch, an toàn và hiệu quả” vì “đối với nền kinh tế nói chung, đồng vốn nào cũng như nhau, không có sự phân biệt giữa vốn nhà nước hay tư nhân”?

- Trong điều kiện cắt giảm đầu tư công để phát triển các dự án cơ sở hạ tầng do thiếu hụt về ngân sách, chủ trương huy động các nguồn vốn khác từ xã hội cho mục tiêu này là hoàn toàn đúng. Vấn đề cần lưu ý trước hết ở đây là sự đa dạng hóa cách thức huy động vốn, một biện pháp để phân tán rủi ro. Chẳng hạn như không nên tập trung ở mức quá cao vào vốn tín dụng ngân hàng mà cần tăng mức sàn vốn góp của chủ đầu tư; mở rộng phát hành trái phiếu công trình và phát hành cổ phiếu trên sàn chứng khoán.

Tiếp đó là tăng cường chất lượng, hiệu quả, hiệu lực và tính kỷ luật pháp chế của các biện pháp quản trị, bao gồm quản trị tài chính, quản trị dự án và quản trị chất lượng công trình.

Ngoài ra, vì PPP nói chung và BOT nói riêng vốn là một cơ chế phức hợp cả về chính sách, pháp luật, tài chính và quản trị, nên chăng Chính phủ cần thành lập một cơ quan chuyên biệt để quản lý và chịu trách nhiệm về lĩnh vực này?

Chúng ta đều biết rằng hậu quả của núi nợ xấu ngân hàng chính là do quản trị tài chính yếu kém, việc để lọt các chủ đầu tư không đủ năng lực là do thiếu cơ chế đấu thầu minh bạch và nguyên nhân của việc các con đường cao tốc mới làm xong đã phải sửa là do thiếu sự giám sát hiệu quả cả về chuyên môn lẫn từ góc độ quản lý nhà nước. Tất cả những vấn đề trên đều đã xảy ra trong các câu chuyện của quá khứ. Do đó, cùng với việc ban hành một loạt các văn bản pháp luật mới trong thời gian qua trong lĩnh vực đầu tư, đấu thầu dự án và tài chính ngân hàng, tôi tin và hy vọng rằng các bài học kinh nghiệm đã được rút ra cho một chặng đường phát triển tiếp theo, không kém phần sôi động, của đất nước.  

Mời xem thêm